Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Tác dụng của chất Sắt(Fe) đối với sức khỏe

http://www.benhvienthongminh.com
Sắt là một trong những chất khoáng rất quan trọng đối với cơ thể. Sắt là nguyên liệu để tổng hợp nên hemoglobin, chất có mặt trong tế bào hồng cầu và làm cho hồng cầu có màu đỏ, có vai trò vận chuyển oxy trong máu đến với các mô trong cơ thể

Sắt là một trong những chất khoáng rất quan trọng đối với cơ thể. Sắt là nguyên liệu để tổng hợp nên hemoglobin, chất có mặt trong tế bào hồng cầu và làm cho hồng cầu có màu đỏ, có vai trò vận chuyển oxy trong máu đến với các mô trong cơ thể. Sắt cũng là thành phần của myoglobin, có trong cơ vân, có tác dụng dự trữ oxy cho hoạt động của cơ vân, chúng sẽ kết hợp với các chất dinh dưỡng khác để giải phóng năng lượng cho sự co cơ.
Sắt cũng là thành phần cấu tạo của một số loại protein và enzyme, có vai trò trong quá trình giải phóng năng lượng khi oxy hóa các chất dinh dưỡng và ATP.
Hậu quả của việc thiếu sắt
Nếu thiếu sắt, sự vận chuyển oxy đến các mô cơ thể cũng như sự dự trữ oxy ở mô cơ vân sẽ giảm sút, làm cho cơ thể hoạt động không hiệu quả, mau mệt mỏi, kém tập trung, trí nhớ kém, hay quên. Khi thiếu máu khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu bị giảm, làm thiếu oxy ở các tổ chức đặc biệt là tim, cơ bắp, não gây nên hiện tượng tim đập nhanh, trẻ nhỏ có thể bị suy tim do thiếu máu, các biểu hiện : hoa mắt , chóng mặt do thiếu oxy não, cơ bắp yếu và cuối cùng là cơ thể mệt mỏi.

Thiếu máu não ở trẻ lớn còn làm cho trẻ mệt mỏi hay ngủ gật, thiếu tập trung trong giờ học dẫn đến học tập sút kém. Biểu hiện của thiếu máu thiếu sắt là da xanh niêm mạc nhợt ( đặc biệt là niêm mạc mắt và môi) móng tay móng chân nhợt nhạt, móng tay dễ gày biến dạng, tóc khô cứng  dễ gãy, trẻ  thiếu máu thường biếng ăn chậm lớn, còi cọc, táo bón, ăn hay nôn trớ. Xét nghiệm máu là cách tốt nhất để chẩn đoán thiếu máu. Định lượng huyết sắc tố (Hb) nếu dưới 11g Hb trong 100ml máu ở trẻ là bị thiếu máu
Đa số trẻ bị thiếu sắt thường biểu hiện ở hình thức giảm dự trữ sắt trong cơ thể, chỉ một số trường hợp thiếu sắt nặng sẽ trở thành thiếu máu, thiếu sắt. Việc phát hiện thiếu sắt sớm, trước khi có biểu hiện thiếu máu thiếu sắt, rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ vì sắt có vai trò quan trọng đối với tất cả tế bào trong cơ thể nhất là tế bào não. Trong những hậu quả của thiếu sắt, ảnh hưởng đến sự phát triển của trí thông minh và hành vi  là hậu quả quan trọng và nguy hiểm nhất.
Có trên 40 nghiên cứu của các tác giả trên thế giới ghi nhận nếu thiếu sắt xảy ra trong giai đoạn sớm của cuộc đời, nhất là trong những tháng đầu tiên, sẽ ảnh hưởng đến chỉ số phát triển tâm thần - vận động về sau. Trẻ thiếu sắt càng nhiều và càng lâu thì trí thông minh càng kém, sự phát triển vận động càng chậm chạp. Có một số nghiên cứu cũng cho thấy một số khiếm khuyết trong phát triển nhận thức do thiếu sắt có thể sẽ không hồi phục được với điều trị bổ sung sắt và có thể tồn tại đến 10 năm sau khi đã bổ sung sắt đầy đủ.
Một hậu quả khác của thiếu sắt là nguy cơ hấp thu chì từ đường tiêu hóa sẽ cao, gây ra ngộ độc chì cho cơ thể. Các nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học cho thấy có sự liên quan giữa thiếu sắt và nống độ chì trong máu cao. Môi trường sống của chúng ta bị ô nhiễm chì khá cao, do đó những trẻ có thiếu sắt sẽ là những trẻ có nguy cơ ngộ độc chì cao nhất. Ngộ độc chì là một tổn thương nguy hiểm cho hệ tạo máu và hệ thần kinh, cũng gây ra những hậu quả không hồi phục.
Đối tượng hay bị thiếu sắt
Đối tượng thường bị thiếu máu thiếu sắt thường gặp nhất là phụ nữ, nhất là phụ nữ có thai và trẻ em. Nguyên nhân gây bệnh là do cung cấp thiếu, cơ thể hấp thu sắt kém, hay bị mất nhiều (nhiễm giun sán, xuất huyết đường tiêu hóa do viêm nhiễm hay dị ứng, mất qua kinh nguyệt…) hoặc nhu cầu của cơ thể quá cao trong một số giai đoạn tăng trưởng nhanh và hồi phục sau khi bệnh.
Chế độ ăn của trẻ em Việt nam hay bị thiếu sắt, do đó tỉ lệ trẻ bị thiếu máu thiếu sắt khá cao, nhất là ở những vùng kinh tế và điều kiện vệ sinh còn kém. Sinh non và nhẹ cân cũng là nguyên nhân gây thiếu máu thiếu sắt ở trẻ sơ sinh. Trẻ 1-3 tuổi là lứa tuổi có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt cao, do nhu cầu dành cho tăng trưởng cao trong khi chế độ ăn không cung cấp đủ lượng sắt cần thiết nếu không được chú ý.
Thực phẩm chứa nhiều sắt
Nguồn sắt từ thức ăn động vật như thịt nạc, gan có hàm lượng khá cao và dễ hấp thu, do đó rất cần thiết đối với trẻ nhỏ. Sắt trong thức ăn thực vật thường có hàm lượng thấp hơn và khả năng hấp thu cũng kém hơn thức ăn động vật. Vì vậy, trong khẩu phần ăn của trẻ nên có đạm động vật và phải cho trẻ ăn dặm đúng thời điểm và chế biến đúng cách. Các thức ăn giàu sắt bao gồm thức ăn động vật như gan heo, gan gà, gan bò, các loại thịt màu đỏ (thịt bò, heo…), các loại rau có lá xanh sậm (dền, mồng tơi, rau muống…), các loại sữa bột, bột ăn dặm và ngũ cốc có bổ sung sắt.

Bổ sung sắt phải đúng cách
- Mất máu cấp tính (do bị thương) hay kéo dài (do rong kinh, bị giun móc, trĩ).
- Rối loạn tiêu hoá dẫn đến hấp thu sắt kém.
- Có thai, nhu cầu sắt tăng cao nhưng ăn không đủ lượng thức ăn chứa sắt cần thiết.
- Trẻ em trong năm đầu cần nhiều sắt. Cho ăn không đúng cách sẽ bị thiếu sắt.
Nhu cầu sắt hàng ngày: nam 1mg, nữ 1,6 - 2mg. Trẻ mới sinh đã có một lượng sắt dự trữ khoảng 0,25g. Ở trẻ sinh non, sinh già tháng, suy dinh dưỡng bào thai, lượng sắt dự trữ còn ít hơn, chỉ khoảng 0,15g. Từ khi mang thai cho đến khi nuôi con bú đến 6 tháng tuổi, bà mẹ phải mất đi khoảng 955mg sắt (bao gồm: cho thai 450mg, ở nhau thai 150mg và mất máu khi sinh 175mg và tiết vào sữa cho con 180mg). Trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi, thanh thiếu niên từ 14 -18 tuổi, người mang thai cần một lượng sắt nhiều hơn. Thiếu sắt thường xảy ra trẻ em và người mang thai. Theo các số liệu nghiên cứu có 40 - 50% phụ nữ mang thai bị thiếu sắt (thay đổi theo vùng).
Thiếu sắt sẽ dẫn tới thiếu máu nhược sắc. Người lớn thì kém minh mẫn, dễ mệt, hay quên, hay chóng mặt, ù tai, năng suất lao động giảm, trẻ em thì hay quấy khóc, vật vã, chán ăn ngủ ít, giảm trí nhớ. Riêng người có thai thiếu sắt sẽ ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Ngoài ra, thiếu máu do thiếu sắt còn làm giảm trương lực cơ, bắp thịt nhão, chậm biết ngồi, biết đi. Thiếu máu còn làm tim đập nhanh hơn (để đáp ứng nhu cầu cung cấp ôxy cho các cơ quan tổ chức), nếu để lâu ngày sẽ dẫn đến suy tim.

Bổ sung bằng thực phẩm:
- Cung cấp vitamin C cho cơ thể: ăn các loại quả giàu vitamin C như cam, chanh…giúp hấp thụ chất sắt tốt hơn.
- Dùng đồ nấu bằng gang khi nấu ăn sẽ tốt hơn cho những người bị thiếu máu.
- Không hút thuốc: hút thuốc làm tăng nhu cầu vitamin của cơ thể vì thế nên tránh hút thuốc.
Có nhiều loại thực phẩm chứa sắt: Lượng sắt (tính bằng mg) trong 100 gam thực phẩm lần lượt là: tiết bò (52), men bia khô (16), gan lợn (10), thịt bò (2,7), trứng gà (2,2), cua biển (3,8) mực tươi (0,6) cá chép, cá trê, cá đối (0,8) mộc nhĩ (65), nấm hương khô (35), đậu nành (11), vừng (10), đậu xanh (4,8), cần tây, cần ta (3), rau ngót (2,7) củ cải (2,9), rau dền trắng (6,1) rau dền đỏ (5,4), các loại rau thơm (3,8).
Theo đó, thức ăn thực vật phần lớn chứa sắt ít hơn thức ăn động vật, thức ăn động vật sống dưới nước chứa ít sắt hơn loại động vật sống trên cạn. Cơ thể hấp thu được 10 - 15% thức ăn động vật nhưng chỉ hấp thu được 5% trong thức ăn thực vật (tính trung bình chỉ 10%). Song trong thức ăn động vật thì sắt dạng hemoglobin thường chiếm chủ yếu (như trong tiết) lại rất khó hấp thu. Người ăn chay ròng sẽ thiếu sắt, nhưng người chỉ ăn nước thịt bò ép cũng chỉ đưa vào cơ thể chất protein (giúp cho sự tổng hợp globin) chứ không đưa chất sắt vào cho cơ thể được. Ngoài ăn thức ăn chứa chất sắt, cần ăn các thức ăn có chất porphyrin (để tạo ra nhân pyrol) và chất protein (để có globin và vitamin) mới tạo ra được huyết cầu tố.
Người chỉ ăn thức ăn thực vật tính ra có thể đủ lượng sắt nhưng vẫn bị thiếu máu do không tạo ra được huyết cầu tố.
Các thức ăn quá giàu phospho sẽ gây kết tủa sắt làm giảm sự hấp thu sắt. Vitamin C (và một số vitamin nhóm B như B6) giúp sự hấp thu sắt và tổng hợp huyết cầu tố.
Ngoài thức ăn thông thường còn có thực phẩm chức năng bổ sung chất sắt.
Như vậy, muốn đủ sắt thì phải ăn một lượng sắt gấp 10 lần nhu cầu khuyến cáo (vì cơ thể chỉ hấp thu trung bình 10%), ăn dạng sắt dễ hoà tan trong cả động vật và thực vật, kèm theo phải ăn đủ chất đạm, không ăn quá nhiều thức ăn giàu phospho và nên ăn thức ăn có vitamin C.

Bổ sung sắt bằng thuốc:
Khi thiếu sắt cấp tính hay kéo dài thì nhất thiết phải bổ sung bằng thuốc. Sau khi phục hồi đủ sắt mới chuyển sang duy trì bằng chế độ ăn giàu chất sắt. Ngoài ra cần phải chữa các bệnh gây thiếu sắt (như tẩy giun móc).
Có loại thuốc chứa sắt thuần tuý (viên sắt fumarat, sắt gluconat, sắt succinat, sắt oxalat, sắt tatrat, sắt II sulfat). Có loại phối hợp chất sắt với acid folic (viên probofex.) Người có thai trong suốt thai kỳ cần uống viên sắt kết hợp với acid folic. Khi dùng viên sắt thuần tuý sẽ bị táo bón nên trong một số viên sắt người ta cho thêm dược liệu có tính nhuận là đại hoàng, nhưng nếu dùng nhiều đại hoàng sẽ bị tiêu chảy, ngừng dùng sẽ hết. Để tránh hiện tượng này không nên dùng quá liều lượng. Cũng như khi ăn muốn dùng viên sắt có hiệu quả thì không dùng viên sắt đã bị quá hạn kém phẩm chất (vì đã chuyển sang dạng sắt khó hoà tan), kèm theo phải ăn đủ chất đạm.
Cần tránh các trường hợp hay nhầm lẫn: Bệnh thiếu máu ác tính do thiếu B12, thì chỉ cần dùng vitamin B12. Còn những sản phẩm vitamin B12 kết hợp với vitamin B1, B6 (như terneurin, becofort) trước đây dùng chữa đau dây thần kinh, một số người thiếu máu do thiếu sắt đúng ra phải dùng viên sắt nhưng nhầm lẫn chỉ dùng sản phẩm kết hợp này để chữa là không đúng, vừa lãng phí vừa không đưa lại hiệu quả.
Có bệnh do thiếu hay thừa sắt nhưng lệ thuộc vào hormon hepcidine. Chứng nhiễm sắc tố sắt di truyền (hemochrommatose): sắt hấp thu vượt mức mỗi ngày 2 - 3mg ngay từ khi sinh, tích luỹ dần, nhưng sau tuổi biết đi mới có triệu chứng (da thâm đen, gan to, lách to chắc cứng, kèm theo cổ trướng, đái tháo đường). Bệnh hồng cầu hình lưỡi liềm (thalassemie): gây quá tải sắt trong máu dẫn đến ngộ độc sắt. Bệnhthiếu máu sắt mạn tính: sắt không đưa được vào trong tuỷ xương để tạo hồng cầu. Với các bệnh này người ta dùng hepcidine (khi thiếu) và chất ức chế hepcoidine (khi thừa) để chữa hoặc theo các cách chữa cổ điển khác. Các trường hợp này cần khám chữa theo đơn của thầy thuốc chuyên khoa.

Danh sách các loại thực phẩm giàu sắt:
1. Động vật thân mềm
Trai, sò, hàu là một trong số những loại hải sản than mềm giàu sắt nhất. Hai mươi con sò nhỏ có thể cung cấp 53 mg , tương đương 295% lượng sắt cần thiết mỗi ngày. Hàu, sò và bạch tuộc cũng góp phần mang lại một lượng sắt đáng kể. Chúng lần lượt mang đến 57%, 45% và 32% DV sắt. Nếu bạn là người thích đồ biển thì hãy cân nhắc và thêm các loại hải sản này vào trong bữa ăn hằng ngày của mình nhé!
2. Gan
Gan của các loài động vật như gà, lợn, bò, cừ đều chứa hàm lượng sắt cao. Đặc biệt, gan bò là loại giàu sắt nhất. Nó có thể cung cấp tới 6.1 mg sắt trong một khẩu phần ăn khoảng 100 g. Gan động vật cũng chứa ít chất béo và calo. Đây là một trong số loại thực phẩm giàu sắt quan trọng có thể giúp bạn tránh khỏi tình trạng thiếu hụt sắt.
3. Hạt bí xanh và bí đỏ
Hạt các loại bí xanh và bí đỏ là những đại diện tiêu biểu cho các sản phẩm chứa nhiều sắt. Chúng có thể cung cấp khoảng 34 mg tương đương với 188% lượng sắt cần thiết. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hạt bí đỏ có thể giúp cản trở quá trình hình trành sỏi thận trong cơ thể. Các loai hạt khác cũng chứa nhiều sắt bao gồm: vừng, hướng dương và hạt lanh . Chúng lần lượt cung cấp 23%, 11% và 9% DV sắt mới mỗi một khẩu ăn thông thường. Giờ đây, bạn đã có thể chỉ ra những lí do hợp lý để thường xuyên nhâm nhi các loại hạt này rồi đấy.
4. Các loại hạt khác
Các loại hạt luôn được biết đến là một nguồn cung cấp sắt tuyệt vời.. Hạt điều đứng đầu danh sách bởi lẽ một ounce hạt điều có thể mang tới 7,8 mg tương đương 43% lượng sắt cần thiết mỗi ngày. Các loại hạt nhiều sắt khác bao gồm hạt thông( 9% DV), hạnh nhân, đậu phộng và quả hồ trăn, cung cấp 7% DV và các loại hạt macadamia, cung cấp 6% DV sắt. Sử dụng các loại hạt này thường xuyên có thể tăng cường sắt cho cơ thể và tốt cho tim mạch.
5. Thịt bò và cừu (Phần thăn)
Thịt bò và thịt cừa là một nguồn cung cấp sắt vô cùng phong phú. 100 g thịt thịt bò nạc sẽ có thể cung cấp 3.1 mg tương đương 21% lượng sắt cần thiết. Tương tự, với 3 oz thịt cừu tươi có thể mang đến cho bạn 13% Dv sắt. Thịt bò cả nạc lẫn mỡ có thể cung cấp 3.2 mg sắt. Thường xuyên ăn các loại thịt màu đỏ sẽ giúp bạn ngăn ngừa nguy cơ thiếu sắt. Bên cạnh việc chứa hàm lượng sắt cực cao, thịt bò và cừu cũng sẽ giúp hạ lượng cholesterol trong cơ thể.
6. Các loại đậu
Đậu (đỗ) mang trong mình hàm lượng sắt dồi dào. Tuy nhiên chúng cũng chứa chất axit phytic có thể làm giảm khả năng hấp thu sắt. Để giảm tỉ lệ chất axit này, bạn nên ngâm đậu và xung vào trong nước ấm qua đêm trước khi chế biến. Đậu nành là một trong những loại thực phẩm mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng nhất đặc biệt là sắt. Mộc cốc đậu nành có thể cung cấp 8.8 mg sắt tương đương với gần nửa lượng khoáng chất cần thiết mỗi ngày. Đậu đen cũng là một nguồn sắt tuyệt vời khi chúng có thể cuôn cấp tới 20% lượng dưỡng chất cần thấp thụ trong một khẩu phần ăn thông thường. Các loại đậu ngoài ra cũng rất giàu molypden – một khoáng chất cần thiết cho việc hấp thụ sắt và phát huy chức năng enzym.
Một chén đậu trắng nấu chín cung cấp 6,6 mg hoặc 37% DV sắt. Các loại đậu khác cũng chứa hàm lượng sắt cao bao gồm đậu lăng (37% DV), đậu (29% DV), đậu garbanzo hoặc đậu xanh (26% DV), đậu lima (25% DV) và đậu mắt đen (20% DV) . Đậu lăng (đậu ván) cũng chứa chất xơ không hòa tan có thể giúp bạn cảm thấy nhanh no.
7. Ngũ cốc nguyên nguyên hạt hoặc dạng cám
Các loại ngũ cốc nguyên hạt hoặc dạng cám là loại thực phẩm giàu sắt cực tốt cho những người ăn kiêng. Tuy nhiên, trong những loại ngũ cốc này cũng có thiều chất ức chế sắt mang tên axit phytic. Bạn có thể làm giảm lượng axit phytic bằng các ngâm hoăc làm chúng lên men trước khi nấu. Trong số các loại ngũ cốc, hạt quinoa ( diêm mạch) là loại hạt có thể cung cấp tới 2,8 mg tương đương15% DV sắt trong một khẩu phần ăn. Yến mạch và bột yến mạch cũng là nguồn cung cấp sắt tuyệt vời khi chúng có thể mang lại 4,7 mg trong một khẩu phần ăn 100 gram. Song Các loại lại cũng chứa axit phytic mà không thể loại trừ thông qua việc ngâm và lên men. Bạn nên sử dụng bột yến mạch nhiều hơn các loại ngũ cốc thông thường.
Các loại ngũ cốc khác cũng đi kèm với hàm lượng sắt cao bao gồm lúa mạch (12% DV), gạo (11% DV), kiều mạch (7% DV) và kê (6% DV). Các loại ngũ cốc dạng cám có thể cung cấp lượng sắt khổn lồ lên tới 140% DV trong mỗi suất ăn thông thường. Tuy nhiên, bạn cần biết rằng, ngũ cốc dạng cám cũng chứa hàm lượng cao. Chính vì thế, ngũ cốc nguyên hạt lại chính là nguồn thực phẩm giàu sắt non- heme tốt cho cơ thể của bạn. Ngũ cốc nguyên hạt có thể cung cấp 0,9 mg tương đương 6% lượng sắt cần thiết. Với tư cách là một loại thực phẩm chứa hàm lượng sắt cao bạn không nên dùng kèm ngũ cố với các sản phẩm bổ sung sắt.
8. Rau có lá màu xanh đậm
Các loại rau có lá màu xanh đậm như rau chân vịt, cải xoăn vv là những loại thực phẩm giàu sắt cũng như vitamin cần thiết cho khả năng hấp thụ sắt. Một khẩu phần ăn rau chân vịt có thể cung cấp 6 mg tương đương 36% DV sắt. Rau lá xanh khác cũng giàu sắt bao gồm cải cầu vồng (22% DV), củ cải xanh nấu chín (16% DV) và xanh lá cây củ cải đường (5% DV). Bạn nên chú ý rằng những loại rau lá xanh này cũng đi kèm hàm lượng oxalate cao có thể gây ức chế quá trình hấp thu sắt cũng như có khả năng loại sắt ra khỏi cơ thể.
9. Sô cô la đen và bột ca cao
Sô cô la đen bên cạnh việc là một món ăn nhẹ ngon miệng, nó còn là nguồn thực phẩm cung cấp nhiều sắt. một thanh sô cô la đen có thể cung cấp 2 mg tương đương 28% lượng sắt cần thiết. Trong khi đó, một cốc bột ca cao có thể mang lại 23 mg tương đương 128% loại dưỡng chất này. Sô cô la đen đồng thời cũng tốt cho huyết áp và làm giảm lượng cholesterol.
10. Đậu phụ
Đậu phụ mang trong mình một lượng sắt non-heme phong phú. Một khẩu phần ăn đậu hũ có thể cung cấp 3,4 mg tương đương 19% lượng sắt cần thiết. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng đậu phụ có thể giúp ngăn ngừa ung thư vú. Đây cũng là thực phẩm tuyệt vời dùng để thay thế cho thịt nhằm cung cấp đủ protein. Vì canxi có thể cản trở sự hấp thu sắt non heme, nên bạn có thể sử dụng đậu hũ mà không cần tới các chất tăng cường canxi.
Bạn nên kết hợp các loại thực phẩm giàu chất sắt ở trên trong bữa ăn hàng ngày của mình. Đừng quên để lại bình luận của bạn cho chúng tôi nhé.
Bảng tổng hơp các loại thực phẩm giàu sắt:
Loại thực phẩm
Tên thực phẩm
Thịt và trứng
- thịt bò
- thịt lợn
- thịt cừu
-thịt bò khô
- giăm bông
- gan
- gà tây
- Pa tê
- gà ta
- Trứng các loại
- thịt bê
Hải sản
-Tôm
- cá ngừ
- nghêu
- cá mòi
- sò
- cá tuyết chấm đen
- hàu
- cá thu
Các loại rau
- rau chân vịt
- củ dền
- khoai lang
- xu hào
- các loại đậu
-cải xoăn
- Bông cải xanh
- cải cầu vồng
- đậu cô ve
Ngũ cốc và các loại bột
- bột mì trắng
- bột ngô
- hạt mì nguyên hạt
- yến mạch
- pasta
- bánh mỳ đen
- các sản phẩm từ bột mì
- gạo
- ngũ cốc dạng cám
Trái cây
- dâu tây
- mận khô
- dứa hấu
- mơ khô
- nho khô
- đào xấy
- chà là
- sung khô
Đậu và các loại thực phẩm khác
- đậu phụ
- đậu lăng
- đậu trắng, đóng hộp
- siro bắp
- các sản phẩm cà chua
- cây siro
- đỗ tương xấy
- đậu xấy
Lưu ý:

- Phụ nữ có thai hoặc đang trong chu kỳ kinh nguyệt cần bổ sung khoảng 25mg sắt mỗi ngày, gấp khoảng 1,8 lần so với người bình thường. Trẻ em dưới 4 tuổi cần khoảng 10mg Sắt mỗi ngày.

- Bổ sung sắt bằng các loại thực phẩm tốt hơn so với bổ sung sắt bằng thuốc viên. Khi bổ sung sắt bằng thuốc viên cần tuân theo chỉ định của bác sỹ. 

- Hạn chế uống café, trà, đồ uống có ga,… trong bữa ăn vì chúng có chứa những chất gây cản trở sự hấp thụ Sắt từ thực phẩm.
Cũng giống như các bệnh khác, thiếu máu có nhiều nguyên nhân gây nên như:
      - Thiếu máu do thiếu chất sắt: chiếm đến 25-35% các trường hợp thiếu máu, xảy ra trong những trường hợp mất máu lâu ngày, như phụ nữ ra máu nhiều khi có kinh; ung thư ruột già khiến máu âm thầm chảy rỉ rả ngày này sang ngày khác, dù mắt ta không nhìn thấy...
      - Do bệnh kinh niên: cũng chiếm 25-35% các trường hợp thiếu máu. Các bệnh kinh niên như bệnh thận, bệnh gan, bệnh tuyến nội tiết... lâu ngày có thể khiến ta đâm thiếu máu.
      - Tan huyết (hemolytic anemia, các hồng huyết cầu bị phá hủy) và tủy xương không tạo đủ máu: 15% các trường hợp thiếu máu.
      - Bệnh myelodysplasia: 10% các trường hợp thiếu máu.
      - Bệnh thalassemia (khiến hồng huyết cầu có dạng nhỏ): 5-10% các trường hợp thiếu máu.
      - Các bệnh khác: 5-10% các trường hợp thiếu máu. Chẳng hạn như bệnh thiếu chất sinh tố B12, thiếu chất folate...
Tùy vào từng nguyên nhân bác sĩ sẽ có chỉ định có nên uống thuốc không? Chế độ ăn uống nghỉ ngơi như thế nào. Vì vậy không nên tự ý uống thuốc khi bị thiếu máu.

Benhvienthongminh.com cung cấp loại sắt tốt nhất được chiếc xuất từ thảo dược, phòng và trị bệnh về máu rất tốt, khi có bệnh rồi ăn uống không đủ đâu, phải bổ sung sắt bằng thảo dược mới hết bệnh, khi cần vui lòng liên hệ.: 0935141438

Ds. Vũ Hải Trung



Tác dụng của tỏi

http://www.benhvienthongminh.com

SKĐS - Tỏi từ lâu được biết đến là loại thực phẩm vô cùng tốt cho sức khỏe, tuy nhiên, gần đây có nhiều lời đồn thổi cho rằng tỏi mọc mầm là “thần dược” chữa được bệnh ung thư.
Tỏi từ lâu được biết đến là loại thực phẩm vô cùng tốt cho sức khỏe, tuy nhiên, gần đây có nhiều lời đồn thổi cho rằng tỏi mọc mầm là “thần dược” chữa được bệnh ung thư.

Trên rất nhiều diễn đàn của mạng xã hội, nhiều thành viên chia sẻ các bài viết với tiêu đề như: “Đừng vứt tỏi mọc mầm. Chúng có thể cứu sống bạn đấy!”; “Tại sao tỏi mọc mầm được xem là thần dược chữa bách bệnh?”; “ Tỏi mọc mầm - “thần dược” thường bị vứt bỏ ”… Đa số nội dung các bài viết đề cập đến công dụng thần kỳ của tỏi mọc mầm, đặc biệt là chống lại bệnh ung thư hơn cả những tép tỏi tươi mới.
“Tỏi mọc mầm chứa rất nhiều các hoạt chất giúp ức chế các tế bào gốc tự do gây ung thư giúp phòng chống ung thư rất tốt. Theo các nhà nghiên cứu khoa học, hợp chất phytoalexin có lợi cho sức khỏe con người tăng rất mạnh khi tỏi bắt đầu này mầm. Khi ăn tỏi nảy mầm, hợp chất này sẽ giúp hỗ trợ sức đề kháng, tăng khả năng ức chế các loại vi rút, vi khuẩn và các tế bào gốc tự do có hại cho cơ thể. Chính vì vậy, nếu bạn đang có ý định vứt bỏ những tép tỏi cũ đã mọc mầm để thay bằng những tép tỏi tươi mới hơn thì hãy suy nghĩ lại nhé, bởi rất có thể chúng sẽ cứu sống bạn đấy!”- một trang web thu hút rất nhiều chị em chia sẻ thông tin.


Được cho là “khắc tinh” của bệnh ung thư, “là vị thuốc tự nhiên phòng chống căn bệnh nguy hiểm này”, trên một trang mạng khác có viết: “Thông thường, các củ quả mọc mầm hầu hết đều phát sinh những chất độc, thậm chí là kịch độc như khoai tây. Tuy nhiên với tỏi, việc mọc mầm của loại củ gia vị này thì ngược lại, thậm chí còn “chiến đấu” rất tốt với bệnh ung thư”.
Trước những thông tin này, nhiều người tỏ rất tin tưởng làm theo: “Bình thường ở nhà mình cứ thứ gì mọc mầm là mình quăng không thương tiếc. Bữa nay đọc được bài này thấy hồi đó giờ mình lãng phí quá”. Thậm chí một số thành viên khác còn hướng dẫn cách để tỏi có thể mọc mầm và không bị thối, teo tóp…
Tuy nhiên, không ít người cũng tỏ ra hoài nghi: “Sao ngày xưa người ta lại nói ăn tỏi mọc mầm không tốt, dễ gây ung thư nhỉ?”. Thành viên khác cũng tỏ ra băn khoăn: “Mình cũng nghe nói tỏi mọc mầm ăn vô rất độc. Chẳng biết tin vào đâu…”. “Có nghiên cứu nào chưa? Mình thì không tin thế! Tất cả những thứ mọc mầm đều đã mất đi phần dinh dưỡng, chưa kể sự chuyển hóa các chất nữa. nếu có một chứng minh khoa học có lẽ sẽ hay hơn nhiều!”…


Không chỉ nói về tác dụng chống lại bệnh ung thư, trên mạng xã hội còn chia sẻ nhiều tác dụng khác của tỏi mọc mầm như điều trị ngộ độc thực phẩm, bảo vệ tim mạch, ngăn ngừa đột quỵ, chống lão hóa, tăng cường hệ thống miễn dịch…
Thận trọng với tỏi mọc mầm
Trao đổi với PV Báo Sức khỏe&Đời sống xung quanh tác dụng chữa bệnh ung thư của tỏi mọc mầm, Lương y Vũ Quốc Trung nhấn mạnh, tỏi mọc mầm không thể chữa được ung thư, mà nó chỉ có tác dụng trong việc hỗ trợ điều trị, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. Do đó, người dân cũng cần thận trọng khi tìm hiểu thông tin chữa bệnh trên mạng xã hội.
"Đối với tỏi mọc mầm nhìn chung về thành phần cũng không khác tỏi bình thường. Nhưng khi tỏi mọc mầm là trong quá trình chuyển hóa sinh trưởng, vì vậy chúng có thể sinh ra nhiều hoạt chất mới và có nhiều tác dụng khác nữa mà chúng ta chưa khám phá hết. Ung thư là một bệnh rất nguy hiểm vì vậy cần lưu ý khi sử dụng tỏi mọc mầm cho người bệnh. Còn để phòng tránh bệnh, chúng ta có thể sử dụng tỏi tươi hay tỏi mọc mầm sống trong mỗi bữa ăn hằng ngày” - Lương y Quốc Trung nhấn mạnh.
Tỏi là một thực phẩm làm gia vị rất bình thường nhưng nó lại là một vị thuốc quý nếu biết sử dụng. Trong Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào 2 kinh Can, Vị. Người ta có thể sử dụng tỏi kết hợp với một số vị thuốc để hỗ trợ điều trị ung thư như: Tỏi kết hợp với Bạch hoa xà thiệt thảo, hồ lô chữa ung thu dạ dày. Hoặc cũng có thể dùng tỏi giã nát ngâm với rượu uống nửa đến một chén vào mỗi buổi sáng để phòng chống ung thư, giảm mỡ máu, hạ huyết áp. Với tỏi mọc mầm, người ta ngâm trong rượu, trong giấm hoặc xay, giã, ăn sống trực tiếp…


Tỏi mọc mầm có chất có thể ức chế sự phát triển một số dòng tế bào ung thư
TS. Trịnh Tất Cường, Phòng Enzym học và phân tích hoạt tính sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội cho biết, tỏi có tên khoa học là Allium stavium, thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae) hay Hoa kèn đỏ Amaryllidaceae, chi Allium. Cho đến nay, sự so sánh giữa các thành phần trong tỏi nảy mầm và tỏi chưa nảy mầm vẫn chưa có công bố khoa học chính xác. Tuy nhiên, theo tự nhiên thì trong quá trình nảy mầm chắc chắn sẽ có những chất mới tạo thành để giúp bảo vệ cho mầm cây chống lại các điều kiện môi trường. Do vậy, có thể trong giai đoạn này thì hàm lượng Allicin có thể đã được tổng hợp từ hai thành phần sẵn có trong tỏi là alliin và enzym allinaze còn đối với tỏi bình thường thì Allicin đã được chứng minh là không có. Trong khi đó, Allicin là một chất đã được rất nhiều công bố khoa học trên thế giới và trong nước chứng minh có hoạt tính sinh học quý giúp cho cơ thể có thể chống lại được nhiều bệnh tật khác nhau kể cả một số dòng tế bào ung thư.


Theo TS. Cường, thực tế thì tỏi được sử dụng rất phổ biến, là một gia vị không thể thiếu trong những bữa ăn và là vị thuốc có giá trị chữa bệnh cao. Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đã chứng minh được tỏi có khả năng chống oxy hóa, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông. Bởi vì, tỏi có hoạt chất chống oxy hóa mạnh, có thể ngăn chặn các quá trình trên. Trong tỏi thường có 3 hoạt chất chính: allicin, liallyl sulfide và ajoene. Trong đó, Allicin là hoạt chất quý nhất và quan trọng nhất của tỏi, nhưng không có sẵn ở trong tỏi. Tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của men allinase, chất alliin có sẵn trong tỏi sẽ tự tổng hợp thành allicin. Nhưng Allicin dễ mất hoạt tính sau khi được hình thành và càng để lâu càng mất hoạt tính. Bên cạnh đó, Allicin có một số dược tính có lợi mà giúp cho cơ thể có khả năng tăng cường đáp ứng lại một số bệnh.
“Các nghiên cứu gần đây đã công bố allicin có khả năng chống viêm nhiễm, tăng cường hoạt tính của các tế bào trong quá trình thực bào, tăng cường hoạt tính của các tế bào giết tự nhiên, ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh, ức chế sự phát triển của những tế bào ung thư. Do vậy, theo tôi mầm tỏi hoàn toàn có khả năng ức chế được sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư. Tuy nhiên, mầm tỏi có khả năng chữa được các dòng ung thư nào, ở giai đoạn nào của người bệnh thì cần phải được chứng minh bằng khoa học cũng như phải trải qua nghiên cứu lâm sàng”- TS. Cường nói.
"Thường thì quá trình nảy mầm sẽ sinh ra một số chất mới. Do vậy, ngoài những chất có lợi cho sức khỏe cũng cần phải đánh giá những chất không có lợi mới được sinh ra. Bởi vì, chúng ta chưa biết chính xác trong thành phần của tỏi nảy mầm có Allicin hay không? và hàm lượng là bao nhiêu? được tạo thành hay không nên rất khó có thể đưa ra liều sử dụng. Vì theo các công bố Allicin là một chất kém bền ngày cả ở điều kiện bình thường còn khi qua đường tiêu hóa thì khả năng Allicin ngấm được vào cơ thể với một hàm lượng rất thấp"- TS. Trịnh Cường cho biết.
Thận trọng với tỏi mọc mầm
Trao đổi với PV Báo Sức khỏe&Đời sống xung quanh tác dụng chữa bệnh ung thư của tỏi mọc mầm, Lương y Vũ Quốc Trung nhấn mạnh, tỏi mọc mầm không thể chữa được ung thư, mà nó chỉ có tác dụng trong việc hỗ trợ điều trị, ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. Do đó, người dân cũng cần thận trọng khi tìm hiểu thông tin chữa bệnh trên mạng xã hội.
“Đối với tỏi mọc mầm nhìn chung về thành phần cũng không khác tỏi bình thường. Nhưng khi tỏi mọc mầm là trong quá trình chuyển hóa sinh trưởng, vì vậy chúng có thể sinh ra nhiều hoạt chất mới và có nhiều tác dụng khác nữa mà chúng ta chưa khám phá hết. Ung thư là một bệnh rất nguy hiểm vì vậy cần lưu ý khi sử dụng tỏi mọc mầm cho người bệnh. Còn để phòng tránh bệnh, chúng ta có thể sử dụng tỏi tươi hay tỏi mọc mầm sống trong mỗi bữa ăn hằng ngày” – Lương y Quốc Trung nhấn mạnh.
Tỏi là một thực phẩm làm gia vị rất bình thường nhưng nó lại là một vị thuốc quý nếu biết sử dụng. Trong Đông y, tỏi vị cay, tính ấm, hơi có độc, vào 2 kinh Can, Vị. Người ta có thể sử dụng tỏi kết hợp với một số vị thuốc để hỗ trợ điều trị ung thư như: Tỏi kết hợp với Bạch hoa xà thiệt thảo, hồ lô chữa ung thu dạ dày. Hoặc cũng có thể dùng tỏi giã nát ngâm với rượu uống nửa đến một chén vào mỗi buổi sáng để phòng chống ung thư, giảm mỡ máu, hạ huyết áp. Với tỏi mọc mầm, người ta ngâm trong rượu, trong giấm hoặc xay, giã, ăn sống trực tiếp…
Sự thật về tác dụng chữa ung thư của tỏi mọc mầm
Tỏi mọc mầm có chất có thể ức chế sự phát triển một số dòng tế bào ung thư
TS. Trịnh Tất Cường, Phòng Enzym học và phân tích hoạt tính sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội cho biết, tỏi có tên khoa học là Allium stavium, thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae) hay Hoa kèn đỏ Amaryllidaceae, chi Allium. Cho đến nay, sự so sánh giữa các thành phần trong tỏi nảy mầm và tỏi chưa nảy mầm vẫn chưa có công bố khoa học chính xác. Tuy nhiên, theo tự nhiên thì trong quá trình nảy mầm chắc chắn sẽ có những chất mới tạo thành để giúp bảo vệ cho mầm cây chống lại các điều kiện môi trường. Do vậy, có thể trong giai đoạn này thì hàm lượng Allicin có thể đã được tổng hợp từ hai thành phần sẵn có trong tỏi là alliin và enzym allinaze còn đối với tỏi bình thường thì Allicin đã được chứng minh là không có. Trong khi đó, Allicin là một chất đã được rất nhiều công bố khoa học trên thế giới và trong nước chứng minh có hoạt tính sinh học quý giúp cho cơ thể có thể chống lại được nhiều bệnh tật khác nhau kể cả một số dòng tế bào ung thư.

Theo TS. Cường, thực tế thì tỏi được sử dụng rất phổ biến, là một gia vị không thể thiếu trong những bữa ăn và là vị thuốc có giá trị chữa bệnh cao. Trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của 2 loại bệnh tim mạch và ung thư, các nhà khoa học đã chứng minh được tỏi có khả năng chống oxy hóa, chống đột biến tế bào, hạ độ mỡ trong máu và làm giảm nguy cơ máu đông. Bởi vì, tỏi có hoạt chất chống oxy hóa mạnh, có thể ngăn chặn các quá trình trên. Trong tỏi thường có 3 hoạt chất chính: allicin, liallyl sulfide và ajoene. Trong đó, Allicin là hoạt chất quý nhất và quan trọng nhất của tỏi, nhưng không có sẵn ở trong tỏi. Tuy nhiên, khi được cắt mỏng hoặc đập dập và dưới sự xúc tác của men allinase, chất alliin có sẵn trong tỏi sẽ tự tổng hợp thành allicin. Nhưng Allicin dễ mất hoạt tính sau khi được hình thành và càng để lâu càng mất hoạt tính. Bên cạnh đó, Allicin có một số dược tính có lợi mà giúp cho cơ thể có khả năng tăng cường đáp ứng lại một số bệnh.
“Các nghiên cứu gần đây đã công bố allicin có khả năng chống viêm nhiễm, tăng cường hoạt tính của các tế bào trong quá trình thực bào, tăng cường hoạt tính của các tế bào giết tự nhiên, ức chế sự phát triển của vi sinh vật gây bệnh, ức chế sự phát triển của những tế bào ung thư. Do vậy, theo tôi mầm tỏi hoàn toàn có khả năng ức chế được sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư. Tuy nhiên, mầm tỏi có khả năng chữa được các dòng ung thư nào, ở giai đoạn nào của người bệnh thì cần phải được chứng minh bằng khoa học cũng như phải trải qua nghiên cứu lâm sàng”- TS. Cường nói.
Dùng tỏi để làm đẹp:
Tỏi thường được biết tới là món gia vị độc đáo cho các món ăn. Tuy nhiên, loại thảo mộc này cũng có rất nhiều lợi ích dành cho sức khỏe và sắc đẹp. Nó có tính chất kháng khuẩn,chống nấm, và dồi dào kẽm, canxi, sulfur, allicin, và selenium.

Với da và tóc, tỏi có những lợi ích sau:
Chữa trị rụng tóc
Chất allicin và sulfur trong tỏi có tác dụng chữa trị rụng tóc. Hợp chất này làm tăng tuần hoàn máu ở da đầu, kích thích mọc tóc và giảm rụng tóc.
Trị nhiễm trùng da đầu và gàu
Các vấn đề thường gặp về da đầu như ngứa da đầu, nhiễm trùng và gàu có thể được tỏi giải quyết. Chất sulfur trong tỏi đóng vai trò then chốt trong việc ngăn ngừa gàu, tróc mảng da.
Chất sulfur trong tỏi hỗ trợ sản xuất collagen chống lại việc xuất hiện nếp nhăn. Hình minh họa.
Giảm mụn nhọt
Một tép tỏi là đủ để loại bỏ vi khuẩn trên bề mặt da vì tính chất chống nấm của nó. Chất chống oxy hóa trong tỏi cũng làm sạch các lỗ chân lông bị tắc, giảm mụn nhọt.
Kiềm chế lão hóa
Cùng với tác dụng chống mụn nhọt, tỏi còn có ích lợi kiềm chế những dấu hiệu lão hóa. Loại thảo mộc truyền thống này làm giảm các gốc tự do, giữ da chắc khỏe và trẻ trung. Chất sulfur trong tỏi hỗ trợ sản xuất collagen chống lại việc xuất hiện nếp nhăn.
Làm móng chắc khỏe
Móng tay rất dễ tiếp xúc với nấm, vi khuẩn và bị những vết ố vàng. Những viêm nhiễm này làm yếu lớp biểu bì của móng, khiến chúng tối màu và giòn đi. Tính chất chống nấm tự nhiên của tỏi bảo vệ và ngăn ngừa móng nhiễm khuẩn rất tốt.
Những công thức gợi ý để sử dụng tỏi chăm sóc sắc đẹp:
Tỏi và dầu oliu cho tóc mọc nhanh
Tỏi khi được dùng với một loại dầu nền, ví dụ như dầu oliu, sẽ giúp tóc bóng khỏe hơn và giảm tóc rụng. Dầu oliu tăng tuần hoàn máu, kích thích nang tóc mọc dày hơn. Hỗn hợp tỏi và dầu oliu rất lý tưởng cho một mái tóc khỏe.
Bạn ngâm vài tép tỏi vào dầu oliu trong 1 tuần hay hơn. Sau đó, dùng dầu này để mát-xa toàn bộ da đầu. Để lớp dầu này qua đêm, sau đó gội lại với dầu gội. Dùng ít nhất một lần mỗi tuần để có kết quả mong muốn.
Tỏi và mật ong dùng chung với dầu gội, dầu xả để trị gàu
Nếu bạn muốn dứt bỏ hoàn toàn nỗi lo về gàu, nên thêm tỏi và mật ong vào dầu gội, xả thường ngày của bạn.
Tỏi là phương thuốc hữu hiệu loại trừ gàu. Ảnh: hehealthsite.
Mật ong giữ độ ẩm và nuôi dưỡng tóc từ gốc đến ngọn, dùng thường xuyên sẽ đem lại mái tóc óng mượt. Khi dùng chung với tỏi, nó sẽ cho tác dụng làm sạch sâu hơn và loại bỏ gàu.
Bạn nghiền vài tép tỏi, ép lấy nước. Thêm chừng 1 thìa cà phê mật ong vào dầu gội, trộn chung với nước tỏi, dùng cho toàn bộ da đầu.
Tỏi và dấm trị mụn
Mụn trứng cá và đầu đen là vấn đề chung của da, giữ da khỏe mạnh. Cũng như tỏi, dấm táo có tính chất kháng khuẩn và tính axít làm giảm mụn, mờ thâm.
Lấy chừng 2,3 tép tỏi, nghiền thành miếng nhỏ. Trộn chung với một ít dấm. Dùng một miếng bông ngâm vào hỗn hợp này, áp lên vùng da bị ảnh hưởng trong vài phút rồi rửa sạch bằng nước lạnh.
Tỏi cho móng tay nhiễm nấm
Tỏi rất ích lợi trong việc bảo vệ móng chống nhiễm khuẩn và giảm ố vàng.
Nghiền vài tép tỏi lấy nước. Dùng miếng bông thấm nước tỏi chà lên móng. Làm chừng 2 lần 1 tuần cho móng tay khỏe mạnh. Ngoài ra, bạn có thể thêm nước tỏi vào kem, lotion dưỡng da tay để dùng cho móng.
Tỏi là loại gia vị được dùng nhiều nhất trong chế biến món ăn của người Việt.
Tỏi là loại gia vị được dùng nhiều nhất trong chế biến món ăn của người Việt. Trên số báo thứ hai (số 167 ra ngày 19/11/2014), chúng tôi đã giới thiệu một số cách dùng tỏi làm thuốc. Số báo này mời bạn đọc tham khảo những món ăn có tỏi vừa ngon miệng lại phòng chữa nhiều bệnh.
Tỏi ngâm dấm: dấm ăn 200ml, tỏi già 10 củ, đường trắng 100g. Tỏi bóc vỏ già đập giập, cho dấm vào khuấy đều, thêm đường, đem ngâm sau 3 ngày đêm dùng uống, ngâm càng lâu càng tốt. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần nửa thìa canh. Dùng cho người bị hen phế quản, lao phổi, đau quặn vùng bụng ngực do lạnh, huyết áp cao, bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch. Lưu ý: Dấm ngâm tỏi, rượu ngâm tỏi dùng chữa nhiều chứng bệnh (ngâm để hàng năm, còn chôn xuống đất hoặc đặt trong hầm sâu) có ghi chép trong nhiều tài liệu (Y học cổ đại Ấn Độ, sách Tần Hồ tập giản phương...).
Tỏi xào bún, thịt lợn: tỏi 10 củ, thịt lợn ba chỉ 100g, bún hoặc mì sợi 200g. Tỏi bóc bỏ vỏ giã nát, thịt lợn thái lát. Đem thịt xào chín, cho bún xào tiếp, đảo đều thêm gia vị, cho tỏi vào sau cùng đảo nhanh tay và tắt bếp. Ăn nóng. Món này rất tốt cho người bị viêm khí phế quản ho dài ngày.
Rau sam tỏi dấm: tỏi 1 - 2 củ, rau sam 100g, dấm ăn 10ml, muối ăn 3g. Tỏi bóc vỏ ngoài, giã nát trộn với dấm và muối, khuấy đều thêm chút gia vị khác phù hợp (tương ớt...). Rau sam rửa sạch, nhúng qua nước sôi, chấm với tỏi dấm ăn ngày 1 lần, liên tục 5 - 6 ngày. Món này thích hợp cho người mụn nhọt chốc lở, đặc biệt là các thể mụn nhọt mưng mủ có ngòi thường gặp ở người lớn, người bị tiểu đường.

Cháo tỏi: tỏi 30g, gạo tẻ 100g. Tỏi bóc bỏ vỏ ngoài, cho vào nước sôi đảo qua trong khoảng 1 phút, vớt ra. Gạo tẻ nấu cháo, khi nước sôi, cho tỏi vào cùng nấu cho chín nhừ, cho ăn nóng sáng và tối. Món này rất thích hợp cho bệnh nhân có hội chứng lỵ cấp.
Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng và các trường hợp có viêm tấy ở mắt, miệng lưỡi, răng cần thận trọng.  
2. Những bệnh không nên ăn tỏi:
Mặc dù tỏi cực kỳ tốt cho sức khỏe nhưng nhiều người có xu hướng lạm dụng tỏi trong bữa ăn hàng ngày thì cũng không nên bởi sử dụng quá nhiều tỏi cũng không hề có lợi. Mỗi ngày chỉ nên ăn tối đa 10g là tốt nhất để tỏi có thể phát huy công dụng chữa bệnh.

Hơn nữa, những người có bệnh sau thì nên hạn chế hoặc không nên ăn tỏi:
- Bệnh về mắt:
Ăn tỏi nhiều và trong thời gian dài có thể làm tổn thương mắt. Vì vậy người có bệnh về mắt, giảm thị lực, hoa mắt... không nên ăn tỏi.
- Bệnh viêm gan:
Một số thành phần của tỏi khi vào dạ dày gây kích thích mạnh, ức chế tiết dịch vị ảnh hưởng đến việc tiêu hóa thức ăn. Nếu người ăn có bệnh gan thì điều này sẽ gây triệu chứng buồn nôn.
Hơn nữa, các thành phần dễ bay hơi của tỏi làm giảm hemoglobin có thể dẫn đến thiếu máu, không có lợi cho việc điều trị bệnh gan.
- Bệnh tiêu chảy:
Khi bị tiêu chảy, các vi khuẩn xâm nhập đường ruột gây tổn thương cho hệ tiêu hóa. Nếu ăn tỏi vào gây kích ứng sẽ khiến niêm mạc đường ruột càng tổn thương, xung huyết, tắc nghẽn các chất cần tiêu hóa khiến cho người bệnh bị đau bụng và tiêu chảy nặng hơn.
- Bệnh thận:
Người bị bệnh thận và đang uống thuốc điều trị cần kiêng tỏi vì tỏi làm mất hiệu quả của thuốc, hoặc làm xuất hiện tác dụng phụ của thuốc, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Sức đề kháng yếu:
Ăn tỏi nhiều sẽ tiêu hao khí của con người, đồng thời cũng tiêu hao cả máu. Hơn nữa tỏi hăng, nóng, có độc, sinh đờm động nhiệt, tản khí hao máu. Vì vậy, người có thể chất kém, khí huyết yếu cần chú ý hạn chế ăn tỏi.
Tại benhvienthongminh.com nhận chữa các loại bệnh ung thư, quý cô chú bác vui lòng liên hệ để được chữa sớm, vừa mau hết bệnh vừa nhanh khỏe mà còn tiết kiệm rất nhiều tiền.

Thức uống 5 năm mới dùng 1 lần, sức khỏe “phây phây” không bệnh tật


Thức uống này có tác dụng vô cùng bao quát và giúp chữa được nhiều bệnh. Tuy nhiên, vì nó rất mạnh nên bạn không được dùng nhiều mà 5 năm mới dùng một lần.

Thành phần chính trong công thức này là tỏi, một loại thảo mộc hiếm hoi có công dụng rất đa năng và cực tốt cho sức khỏe. Tỏi sở hữu alicin, một thành phần kháng sinh rất hữu hiệu. Dân gian thường sử dụng tỏi để chữa chứng xơ vữa động mạch, bệnh phổi, viêm xoang, tăng huyết áp, viêm khớp, phong thấp, viêm dạ dày, bệnh trĩ và chứng bất lực.Mình đã thử cách đây 2 năm và đang chờ 3 năm nữa để thử lần hai. Công hiệu lắm nhé các bạn, bằng chứng là mình đang khỏe “phây phây” không bệnh tật gì.
Thức uống này cũng kích thích giảm cân và tăng cường thị lực, thính lực và khả năng trao đổi chất.
Công thức này đã được một đội ngũ chuyên gia UNESCO khám phá ra vào năm 1972 tại một vùng núi thuộc Tây Tạng và được một nhà dược học ghi lại.
Nguyên liệu:
– 350g tỏi
– 200ml cồn 95% hoặc rượu rum
Nếu là cồn, bạn phải chọn loại không chứa độc tố methanol và benzalkonium chloride.
Hướng dẫn:
Lột vỏ tỏi và băm tỏi. Trộn tỏi với rượu và bảo quản trong hũ thủy tinh tối màu. Để yên hỗn hợp trong 10 ngày rồi lọc bỏ tỏi, lấy nước. Cất vào tủ lạnh khoảng 2 tuần nữa. (Nếu không muốn chờ 2 tuần, bạn có thể dùng sau 2-3 ngày).
Cách dùng:
Uống trước bữa ăn trong vòng 12 ngày. Ngày đầu tiên bạn áp dụng theo nguyên tắc sau: 1 giọt trước bữa sáng, 2 giọt trước bữa trưa, 3 giọt trước bữa tối. Tuyệt đối không dùng nhiều hơn vì rượu tỏi rất mạnh. Hãy tuân thủ số giọt trong từng ngày theo bảng sau:
Theo đó, vào ngày thứ 2, bạn sẽ uống 4 giọt trước bữa sáng, 5 giọt trước bữa trưa và 6 giọt trước bữa tối.
Qua ngày thứ 12, nếu rượu tỏi vẫn còn, bạn có thể uống tiếp theo công thức 25 giọt trước mỗi bữa ăn.
Chúc các bạn thành công. Chờ 5 năm sau để thực hiện lần 2 nhé.
TS. nguyễn đức quang