Hiển thị các bài đăng có nhãn nấm da. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nấm da. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Bệnh sơ cứng bì(da)-vẩy nến

Bệnh xơ cứng bì, tên gọi đầy đủ trong y học là bệnh xơ cứng bì hệ thống tiến triển, là một bệnh tự miễn không rõ căn nguyên, đặc trưng bởi tình trạng dầy và cứng da do sự tích luỹ các chất tạo keo, liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể bao gồm ống tiêu hoá, tim, phổi, thận và mạch máu.
   1. Nguyên nhân gây bệnh
Mặc dù các nhà khoa học chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh của xơ cứng bì nhưng có thể khẳng định rằng đây không phải là một bệnh lây nhiễm hoặc di truyền từ bố mẹ sang con cái. Người ta nghi ngờ rằng bệnh xơ cứng bì gây ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố:
- Hoạt tính bất thường của hệ miễn dịch: trong xơ cứng bì, hệ miễn dịch kích thích các tế bào xơ non sản xuất ra quá nhiều chất tạo keo, các chất này lắng đọng xung quanh các tế bào, mạch máu, nội tạng và gây tổn thương xơ hoá tại nơi lắng đọng.
- Cấu trúc gen: một số gen có vai trò quan trọng trong sự phát sinh và tiến triển của bệnh xơ cứng bì.
- Các kích thích trong môi trường: việc tiếp xúc với một số yếu tố trong môi trường như các loại siêu vi trùng, các chất keo hoá học và một số loại dung môi hữu cơ trong một thời gian kéo dài có thể gây ra xơ cứng bì.
- Yếu tố nội tiết: trong nhóm tuổi từ 30-55, tỷ lệ xơ cứng bì ở nữ giới cao hơn ở nam giới 7-12 lần, do đó người ta nói đến vai trò của các hormon sinh dục nữ, đặc biệt là estrogen, trong sự phát sinh của bệnh xơ cứng bì.
Dựa vào mức độ của tổn thương da, xơ cứng bì được chia làm 2 thể là xơ cứng bì khu trú và xơ cứng bì lan toả. Trong thể thứ nhất, tổn thương da khu trú ở mặt và ngọn chi, tiến triển chậm và ít có tổn thương nội tạng nặng, biến chứng nguy hiểm nhất là tăng áp động mạch phổi và xơ đường mật. Thể thứ 2 thường có tổn thương da trên diện rộng ở mặt, gốc chi và thân mình, kèm theo có tổn thương ở đường tiêu hoá, tim, thận và phổi. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi giới và chủng tộc, nhưng hay gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi từ 30-50, bệnh cũng thường xảy ra hơn ở người châu Á và Mỹ – Phi so với người châu Âu.

   2. Biểu hiện của bệnh xơ cứng bì.
   Xơ cứng bì (hay còn gọi là bệnh Collagen) là bệnh rối loạn chất tạo keo, rối loạn sản xuất protein trong cơ thể. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, đa số đều được phát hiện muộn, với những biến chứng nặng như: mũi và miệng nhỏ lại, nuốt nghẹn, khó thở, suy tim, không nói được... Y học chưa tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh

   Đối với xơ cứng bì khu trú hay xơ cứng bì dãi thì bệnh nhân vẫn có thể sinh hoạt bình thường nhưng khi đã mắc bệnh xơ cứng bì hệ thống thì chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nhiều, bệnh nhân mất khả năng lao động và không sinh hoạt bình thường được.
Bệnh tưởng như chỉ thoáng qua, nhưng...Bác sĩ Trần Ngọc Ánh, giảng viên Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế TPHCM, cho biết hội chứng này còn gặp trong những bệnh tắc mạch nên có khi bị chẩn đoán lầm sang những bệnh khác như bệnh thiếu máu đầu chi bởi đầu tiên bệnh xuất hiện ở đầu chi nhưng sau đó lan dần đến mặt và thân mình.
   Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng ở trẻ em thì ít hơn, nguy cơ xảy ra ở nữ cao gấp 3 lần nam. Đa số những bệnh nhân bị xơ cứng bì đều được phát hiện bệnh và điều trị ở giai đoạn muộn. Lúc này bệnh nhân đã có những biến chứng nặng gây tổn thương đến hệ thống tiêu hóa như miệng cứng nên ăn và nói không được. Tất cả những hoạt động đều phải nhờ đến người khác. Bác sĩ Trần Thị Thanh Thủy, Phó Khoa Lâm sàng 1 Bệnh viện Da liễu TPHCM cho rằng về lâu dài bệnh sẽ gây xơ cứng cả cơ hô hấp và thực quản làm bệnh nhân nuốt nghẹn, khó thở, suy tim (do cơ tim bị xơ), phổi bị xơ hóa. Đại đa số những bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng bì tử vong do suy kiệt vì nuốt nghẹn, ăn không được. Lúc đầu nghẹn với thức ăn đặc nhưng sau đó nghẹn cả thức ăn lỏng. Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân thường bị tiêu chảy do các cơ ở ruột non và ruột già đã bị giãn.
Dấu hiệu thường gặp
Những triệu chứng đầu tiên của bệnh là xuất hiện hội chứng Raynaud như cảm giác lạnh, tím trắng ở đầu chi. Khi bệnh lan đến mặt thì da mặt bắt đầu cứng, mất nếp nhăn, mũi và miệng nhỏ lại, việc ăn uống bắt đầu khó khăn. Bệnh di chuyển xuống thân mình làm da trở nên cứng, phẳng, người bó lại như mặc một áo giáp bằng da, bụng cũng phẳng. Màu da có chỗ đậm, chỗ nhạt, không có lông, cơ thể không đổ mồ hôi, không véo da được. Cho đến lúc này, bệnh nhân mới nhận ra mình mắc bệnh xơ cứng bì và tìm đến bác sĩ chuyên khoa da liễu. Do da cứng làm cho tay chân không gập lại được nên đi lại rất khó khăn. Nếu nói một cách hình ảnh thì những bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống có dáng đi như rô bốt. Cũng chính vì vậy mà trong thời gian đầu của bệnh, nhiều người cứ nghĩ mình mắc bệnh khớp và chỉ đi điều trị ở bác sĩ chuyên khoa khớp. Vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết thay đổi, bệnh nhân luôn cảm thấy đau khớp và đau ở những đầu ngón tay.   Xơ cứng bì là bệnh có tổn thương toàn bộ tổ chức liên kết, với tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau đặc trưng bằng các tổn thương ở động mạch, mao mạch nhỏ gây xơ cứng và làm tắc nghẽn các mạch máu ở da, ống tiêu hoá, tim, phổi, thận và các cơ quan khác nhau.
Tổn thương da thường khu trú, tại đó xuất hiện sự tăng sinh nhiều chất tạo keo ở tổ chức liên kết dưới da. Tổn thương nội tạng là điều kiện tiên lượng.
Phân loại
Thể tổn thương da lan toả
Hội chứng Raynaud ít nhất có 1 năm trước khi có tổn thương da.
Tổn thương da ở gốc chi và thân mình.
Hay gặp và có khi có rất sớm các dấu hiệu sau:
Tổn thương tổ chức kẽ của phổi.
Suy thận.
Tổn thương dạ dày - ruột một cách lan tỏa.
Tổn thương cơ tim.
Giãn và phá huỷ các mao mạch.
Thể tổn thương khu trú
Có hội chứng Raynaud từ nhiều năm trước.
Tổn thương da khu trú ở đầu ngón (từ ngón tay lên đến cổ tay hoặc từ ngón chân đến đầu gối), đôi khi cứng da khu trú ở vùng dưới xương đòn).
Có nguy cơ tăng áp lực động mạch phổi muộn.
Có hoặc không có các biểu hiện sau:
Tổn thương tổ chức kẽ của phổi.
Đau dây thần kinh tam thoa.
Xơ hoá và dãn các mao mạch ở tổ chức dưới da.
Hội chứng CREST: bao gồm 4 dấu hiệu là:
Hội chứng Raynaud.
Vôi hoá.
Xơ cứng ngón chi.
Giãn mạch và xơ cứng thực quản.
Dịch tễ học
Là bệnh hiếm gặp, tần suất gặp thay đổi giữa các nghiên cứu. Nhưng người ta nhận thấy rằng tại Mỹ có từ 2,3 đến 16 trường hợp phát hiện mới trong 1 triệu dân mỗi năm.
Bệnh bắt đầu thường từ 40 - 50 tuổi, ở nữ xuất hiện sớm hơn khoảng 30-39 tuổi. Trước tuổi 20, người ta gặp với tỷ lệ 10% các trường hợp nghiên cứu. Tỷ lệ tử vong hàng năm trung bình ở Mỹ khoảng 2,1 đến 2,8 trường hợp trên 1 triệu dân. Tỷ lệ này thay đổi tuỳ theo tuổi.
Phần lớn bệnh nhân tử vong có thời gian tiến triển trung bình 5 năm.
Đây là thời gian cho một quá trình tổn thương nội tạng tiến triển.
Cơ chế bệnh sinh học:
Xơ cứng bì là bệnh có cơ chế phức tạp. Tuy nhiên từ nhiều cơ chế đã biết qua nghiên cứu về sự tham gia của nhiều loại tế bào, về nhiều phân tử (kháng thể, hoạt chất trung gian)…Người ta đã mô hình hoá cơ chế bệnh sinh của xơ cứng bì.
Bệnh lý về chất tạo keo
Tăng lượng chất tạo keo ngoài tế bào như proteoglycan, fibronectin, laminin…tạo nên các tổn thương về giải phẫu bệnh học cơ bản của xơ cứng bì, đó là xơ cứng da và dầy da.
Nghiên cứu qua kính hiển vi điện tử người ta nhận thấy xuất hiện sự tích tụ của các sợi fibrin xen với các sợi tạo keo. Điều này làm biến đổi cấu trúc của da do tăng lắng đọng và bám dính.

Bệnh lý tổn thương mạch máu
Trong xơ cứng bì, tổn thương các mạch máu có kích cỡ nhỏ (50 - 500 micron). Hội chứng Raynaud rất hay gặp (90 - 95% số bệnh nhân), đây được coi là sự tổn thương vi mạch chủ yếu trong xơ cứng bì.
Có sự tăng sinh các tế bào nội mô, làm dày tổ chức trung mô, xơ hoá thứ phát và lắng đọng chất tạo keo gây ra tắc vi mạch do hẹp lòng mạch nhỏ.
Thoái hoá nhân và hoại tử nhân các tế bào nội mạch. Mất đi tình trạng liên kết chặt chẽ của thành mạch. Tăng quá trình thẩm thấu thành mạch gây ra phù, thâm nhiễm tế bào viêm.
Bệnh lý hệ miễn dịch
Các tế bào của hệ miễn dịch như lympho, đại thực bào và các cytokin khác nhau đều tham gia trong cơ chế tổn thương của mạch máu và tổ chức liên kết.
Phối hợp với các tổn thương về gen riêng biệt tác động một cách gián tiếp bằng cách kích thích các nguyên bào sợi và các tế bào nội mô.
Trung tâm tổn thương da là sự thâm nhiễm các tế gào T- CD4 và T - CD8, nhiều nhất ở vùng xung quanh mạch máu và thần kinh.
Kích thích các tế bào lympho B sản xuất một lượng lớn kháng thể, chủ yếu là các tự kháng thể.
Chẩn đoán xơ cứng bì lan toả
Tổn thương hệ tiêu hoá
Bảng. Bệnh lý hệ tiêu hóa trong xơ cứng bì.
Miệng
Thực quản
Dạ dày
Ruột
Loét miệng
Trào ngược thực quản
Giảm nhu động
Nhiễm khuẩn
Viêm gai lưỡi
Giảm nhu động
Giãn dạ dày
Loét hành tá tràng
Giãn mao mạch
Hẹp thực quản
Ứ thức ăn
Giảm nhu động
Rối loạn về nuốt
Loét thực quản
Loét dạ dày
Loét ruột non
Teo gai lưỡi
 Chảy máu dạ dày
Thủng ruột
Áp xe răng
 Hoại tử ruột
Tổn thương thận
Là nguyên nhân tử vong của XCB . Các tổn thương thường là:
Suy thận cấp (gặp với tần suất từ 15 - 20%).
Protein niệu đơn thuần kèm tăng HA, thiếu máu.
Tổ chức học của thận tổn thương có các biểu hiện sau:
Quá sản lớp nội mạch các động mạch liên thuỳ.
Hoại tử dạng fibrin tại các tiểu động mạch.
Tăng sinh các tế bào màng đáy cầu thận.
Có thể phát hiện sự lắng đọng của C3a và IgM bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang trên thành mạch máu tổn thương gây ra thiếu máu cục bộ tại các vùng vỏ thận, gây xơ hoá đơn vị cầu thận. Tổn thương thường lặng lẽ, âm thầm, nhưng tiên lượng rất nặng. Suy thận là nguyên nhân chính gây tử vong.
Nguyên nhân của tổn thương thận chủ yếu là do giảm thể tích máu đến thận, một mặt do xơ cứng động mạch thận đặc biệt các mạch máu nhỏ, mặt khác có sự bài tiết renin tại tổ chức cận cầu thận gây co mạch và giảm lưu lượng tại thận.

Tổn thương phổi
Xơ phổi do xơ hoá tổ chức kẽ là biến chứng hàng đầu trong xơ cứng bì. Biểu hiện khó thở khi gắng sức, ho khan không khạc đờm, giảm rì rào phế nang ở đáy phổi.
X quang phổi cho thấy hình ảnh “lưới” ở giai đoạn đầu, sau đó xuất hiện các nốt mờ xen lẫn, tập trung ở vùng rốn phổi trải dài xuống đáy phổi. Đôi khi xuất hiện hình ảnh bọng khí do dãn phế nang.
Chụp cắt lớp phổi cho thấy rõ tổn thương ở giai đoạn sớm khi hình ảnh X quang còn trong giới hạn bình thường.
Thăm dò quá trình thông khí phổi cho phép phát hiện sớm dấu hiệu xơ tổ chức kẽ của phổi, trước khi có dấu hiệu trên X quang phổi, quá trình xơ phổi sẽ gây ra thông khí hạn chế (giảm các thể tích khí của phổi).
Tăng áp lực động mạch phổi: đo áp lực động mạch phổi là cần thiết trong các trường hợp xơ cứng bì. Đây là biến chứng muộn và là nguyên nhân tử vong.
Tổn thương tim
Dấu hiệu lâm sàng không đặc hiệu cho riêng xơ cứng bì đó là khó thở gắng sức, hồi hộp, tức ngực, tím môi và đầu chi.
Tổn thuơng tim hay gặp gồm:
Viêm màng ngoài tim có thể cấp hoặc tiến triển mạn tính. Đối với thể mạn tính thường không có triệu chứng, chỉ phát hiện trên siêu âm tim…Có thể kèm theo tràn dịch màng ngoài tim với số lượng vừa hoặc nhiều.
Bệnh cơ tim trong xơ cứng bì rất hay gặp do rối loạn tuần hoàn vi mạch của động mạch vành nuôi dưỡng cơ tim. Do quá trình xơ cứng mao mạch, co thắt, hẹp mao mạch gây giảm quá trình tưới máu của cơ tim. Tình trạng này được cải thiện khi điều trị bằng các thuốc chẹn calci như nifedipin.
Rối loạn dẫn truyền tự động gây ra các rối loạn về nhịp, bloc nhánh, bloc nhĩ thất.
Tổn thương xương và khớp
Gặp từ 45% - 90% các bệnh nhân bị xơ cứng bì hệ thống tiến triển. Các biểu hiện ở xương khớp đôi khi là dấu hiệu đầu tiên của bệnh:
Đau, viêm nhiều khớp đối xứng, cứng khớp vào buổi sáng làm người ta thường nghĩ đến viêm khớp dạng thấp.
Thường đau, viêm ở các khớp đốt, bàn ngón, cổ tay, khớp gối, có thể kèm theo sưng, nóng, đỏ.
Viêm bao hoạt dịch tại khớp đau, tràn dịch khớp, thâm nhiễm nhiều tế bào đơn nhân và lympho.
Hạn chế vận động, có cảm giác co cứng khi vận động. Điều này đôi khi còn do cứng da làm nặng thêm.
Trên phim X quang khớp người ta có thể quan sát thấy dày lên của phần mềm quanh khớp, hẹp khớp, loãng xương, huỷ đầu xương trong khớp.
Tổn thương cơ
Bắt đầu bằng đau cơ tăng dần lên.
Tăng vừa phải các men cơ trong huyết thanh, đây là dấu hiệu rất có ý nghĩa.
Sinh thiết cơ tìm thấy xơ hoá tổ chức kẽ, giảm đường kính các sợi cơ, giảm số lượng mao mạch trong tổ chức cơ. Tuy nhiên sinh thiết cơ không phải là thủ thuật được khuyên dùng vì sau sinh thiết có hiện tượng chậm quá trình lên sẹo ở bệnh nhân xơ cứng bì.
Tổn thương hệ nội tiết
Có thể gặp suy tuyến giáp hoặc cường giáp.
Tìm thấy kháng thể kháng giáp ở những bệnh nhân suy giáp.
Suy tuyến cận giáp do xơ hoá tuyến gây ra.
Teo tuyến thượng thận được mô tả trong xơ cứng bì có thể do quá trình điều trị bằng corticoid kéo dài hoặc do chính xơ cứng bì gây ra.

Tổn thương thần kinh
Có thể gây tổn thương dây tam thoa với các triệu chứng: dị cảm, đau đối xứng do tổn thương hai nhánh dưới của dây thần kinh này. Thường không có rối loạn vận động.
Có thể có tổn thương hệ thần kinh trung ương, rối loạn tâm thần kèm theo. Người ta cũng mô tả đến các dấu hiệu tổn thương thần kinh ngoại biên. Các tổn thương thần kinh càng nặng lên khi có sự giảm vitamin B12 do quá trình kém hấp thu, calci hoá trong tuỷ hoặc chèn ép tuỷ.
Tổn thương hệ thần kinh tự động rất hay gặp trong các tổn thương ở dạ dày và ruột gây ra rối loạn về nhu động của dạ dày và ruột.

Tiêu chuẩn chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng của Hội Khớp Hoa Kỳ (ARA) đối với xơ cứng bì hệ thống.
Tiêu chuẩn chính:
Xơ cứng da vùng chi: da căng cứng, dày, ấn không lõm.
Tiêu chuẩn phụ:
Cứng ngón chi: cứng các ngón tay hoặc chân, hạn chế gấp, duỗi các ngón tay.
Chậm lên sẹo vùng da ngón chi.
Xơ phổi vùng đáy.
(Lưu ý: Để chẩn đoán bệnh xơ cứng bì cần có 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ).
Triệu chứng lâm sàng thường gặp
Hiện tượng Raynaud
Gặp ở 95% các trường hợp bệnh nhân XCB và 4% đến 5% trong dân cư.
Là dấu hiệu có trước từ vài tháng hoặc vài năm trước khi có xơ cứng bì. Tiến triển một cách âm thầm.
Đây là rối loạn quá trình vận mạch ở đầu chi do tác động của lạnh và tiến triển trong 3 giai đoạn.
Giai đoạn đầu trong vài phút, xảy ra nhanh ở một hoặc nhiều ngón của hai bàn tay làm đầu ngón trắng, lạnh và giảm cảm giác. Đây là giai đoạn cần cho chẩn đoán.
Giai đoạn 2: Vùng chi tím lại và đau do ứ trệ máu ở hệ tiểu tĩnh mạch.
Giai đoạn 3: Bàn tay trở lại hồng do giãn nở các mao quản. Bàn tay trở nên nóng hơn.
Hiện tượng Raynaud ngày càng xuất hiện nhiều, mau hơn và rõ nét hơn cùng với quá trình tiến triển của bệnh. Giai đoạn nặng bàn tay luôn lạnh, tím và giảm cảm giác.
Tổn thương da và niêm mạc (da, niêm mạc, móng) trải qua 3 giai đoạn: phù, cứng , teo da, mất các nếp trên da.
Da vùng trán, quanh mắt phẳng, mất nếp nhăn, môi mỏng căng, khuôn mặt vô cảm.
Da cứng ở vùng ngón, dày lên tạo thành mảng da khô, dính sát vào lớp sâu làm hạn chế gấp duỗi, giảm tiết mồ hôi, rụng lông, móng khô cứng, gẫy và có khía. Nhiều khi có teo da rõ ở ngón.
Loét và hoại tử đầu ngón do loạn dưỡng và tắc mạch, đôi khi phải tháo đốt ngón đối với trường hợp nặng và đau. Loét có thể gặp ở các vùng da khác do loạn dưỡng.
Loét miệng, áp xe răng lợi cũng là dấu hiệu hay gặp. Hạn chế mở miệng do cứng, có hình khía da quanh miệng.
Xuất hiện vùng mất sắc tố trên da (30%), đôi khi xuất hiện vùng calci hoá dưới da ở đầu ngón hoặc vùng da cẳng tay, cổ, đầu gối. Sự lắng đọng calci này không làm thay đổi màu da, tuy nhiên có mật độ chắc, không đều và có thể có loét.
Xét nghiệm
Các kháng thể kháng nhân trong xơ cứng bì
Người ta phát hiện được một số kháng thể kháng nhân như: Anti - Histone trong xơ cứng bì, tuy nhiên việc xác định hiệu giá trong chẩn đoán bệnh còn cần được nghiên cứu nhiều.
Các xét nghiệm khác
Hội chứng viêm trên xét nghiệm: tăng tốc độ máu lắng, tăng gamma globulin, tăng ferritin, tăng CRP.
Thiếu máu, thông thường là thiếu máu hồng cầu nhỏ, nhược sắc, đôi khi có thiếu máu tan máu tự miễn.
Sinh thiết da cho thấy hình ảnh tăng sinh các nguyên bào sợi, chất tạo keo, dầy thành mao mạch dưới da, tổn thương lớp tế bào nội mô, hình ảnh tắc vi mạch, thâm nhiễm các tế bào viêm xung quanh mạch máu.
Tiến triển và tiên lượng
Tiến triển của xơ cứng bì hệ thống rất khác nhau và khó nhìn thấy trước được. Tiên lượng chung phụ thuộc vào mức độ tổn thương nội tạng. Yếu tố tiêu lượng xấu là mức độ tổn thương thận và tim, nó còn phụ thuộc vào sự lan toả nhanh chóng của tổn thương da.
Yếu tố tiêu lượng bệnh được đề cập nhiều đó là tổn thương phổi với FEV1 < 70% so với giá trị lý thuyết và các dấu hiệu xuất hiện sớm của viêm màng ngoài tim hoặc rối loạn sắc tố da ngay ở lần đầu khám bệnh.
Chẩn đoán phân biệt
Có nhiều tổn thương cứng da rất gần với tổn thương da trong xơ cứng bì.
Cứng da phù niêm
Bệnh hiếm gặp, với một số đặc điểm sau:
Lắng đọng nhiều các phân tử mucopolysacarid ở lớp thượng bì, trung bì.
Gia tăng nhiều nguyên bào sợi tại tổ chức dưới da.
Có nhiều sẩn có đường kính 2 - 3mm ở da cổ tay, mặt mu tay, cánh tay và mặt. Thường phối hợp với cứng da toàn thể.
Chẩn đoán dựa vào sinh thiết da.
Teo cứng da bẩm sinh
Hội chứng Werner: bệnh có tính gia đình. Xuất hiện teo da thể giống xơ cứng bì, teo cơ, đục thuỷ tinh thể hai bên, phối hợp các bệnh lý về động mạch. Trên da có nhiều vết loét, loạn dưỡng ở chân hay phối hợp với loãng xương và đái tháo đường.
Các bệnh phối hợp
Hội chứng Gougerot - Sjửgren: thường gặp với tỷ lệ thấp 1,4 - 7,8%, người bệnh thường có phì đại tuyến mang tai, giảm tiết dịch nước bọt. Tại tuyến có thâm nhiễm các tế bào lympho.
Viêm da cơ: Tổn thương cơ kèm với xơ cứng bì là rất hay gặp. Thông thường có tăng men cơ (CK, CKMP, GOT, GPT…). Trên lâm sàng có hiện tượng yếu cơ, rối loạn điện cơ, có biểu hiện viêm cơ khi sinh thiết cơ. Đôi khi còn có biểu hiện lâm sàng của viêm da cơ.
Lupus ban đỏ: Trong bệnh lý này cũng hay gặp các triệu chứng chung của xơ cứng bì như đau cơ đau khớp. Tuy nhiên kháng thể kháng ADN gặp trong lupus ban đỏ hệ thống với tần suất cao hơn.

Hội chứng Shapr: là hội chứng bao gồm các dấu hiệu của hội chứng Raynaud, ngón tay cứng, đau khớp không biến dạng và viêm cơ, trong huyết thanh xuất hiện kháng thể kháng nhân hoà tan typ anti - RNP với hiệu giá cao, kháng thể này ít có trong xơ cứng bì.
Điều trị xơ cứng bì toàn thể
Điều trị toàn thân
Không dùng thuốc
Cai thuốc lá nhằm chặn quá trình tác động đến phổi và mạch máu.
Tập luyện thể lực hàng ngày, đặc biệt tập thở thường xuyên nhằm cải thiện thông khí của phổi.
Xoa bóp, phục hồi chức năng bằng các phương pháp tắm nóng, bọc paraffin nhằm phục hồi vận động, tránh co cứng cơ, chống teo cơ, tăng cường tuần hoàn mao mạch nơi tổn thương.
Corticoid theo đường toàn thân
Làm thay đổi cấu trúc sợi tạo keo.
Giảm phản ứng viêm tại da, khớp, cơ và phổi.
Điều trị trong những thể xơ cứng bì có kèm viêm đa cơ, viêm da cơ, lupus ban
đỏ và trong những thể nặng của xơ cứng bì khu trú.
Corticoid không phải là phương tiện chủ yếu nhằm điều trị các tổn thương nội tạng nặng và góp vào việc quyết định tiên lượng của xơ cứng bì.
Liều dùng hàng ngày 0,5 - 1mg/kg/24, giảm liều sau đó.
Corticoid tại chỗ
Mỡ Dermovat hoặc Betamethason bôi trên da 1 lần/24h trong thể tổn thuơng da không nặng và không quá sâu.
D - penicillamin
Là thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp, cũng có thể sử dụng điều trị xơ cứng bì. Nó ức chế quá trình tổng hợp chất tạo keo của tổ chức liên kết. Liều dùng hàng ngày từ 300-600mg. Thời gian có thể đến 6 tháng. Người ta có thể phối hợp với corticoid trong điều trị xơ cứng bì. Tác dụng không mong muốn hay gặp khi dùng D- penicillamin là rối loạn tiêu hoá, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, loạn sản tuỷ, suy thận, nhược cơ và dị ứng với các thành phần của thuốc.
Methotrexat
Được sử dụng với mục đích ức chế sản xuất các chất tạo keo từ các nguyên bào sợi. Người ta nhận thấy sự cải thiện có ý nghĩa về mức độ tổn thương da, diện tích tổn thương da, sự cải thiện nhu động của thực quản và hội chứng Raynaud. Ngoài ra thay huyết tương phối hợp với cyclophosphamid cũng được đề cập đến trong điều trị xơ cứng bì toàn thể.
Điều trị tuỳ theo một số tổn thương
Điều trị hội chứng Raynaud
Chủ yếu là điều trị tổn thương mạch máu ngoại vi, ngăn chặn quá trình sản xuất quá nhiều tổ chức sợi và chất tạo keo.

   Đối với thể nhẹ:
Nên tránh tiếp xúc lạnh, tránh chấn thương dễ gây loét.
Tránh dùng các thuốc dễ gây hội chứng Raynaud hoặc làm cho nó nặng lên: Thuốc chẹn beta, casein, nicotin, cocain và các thuốc co mạch khác.
Vệ sinh da tránh loét, tránh bội nhiễm. Đối với các thể loét nặng có thể dùng mỡ kháng sinh tại chỗ. Khi tay bị ẩm cần được làm khô.
Dùng mỡ nitroglycerin (Lenitral) trên vùng da ở ngón tại vị trí hai cạnh bên của ngón nơi có động mạch nhỏ đi qua nhằm làm giãn mao mạch, cải thiện sự tưới máu đến ngón chi.
   Đối với thể nặng:
Ức chế kênh calci được dùng phổ biến và có hiệu quả: Nifedipin từ 20mg đến 80mg/ngày trong thời gian dài. Biến chứng hay gặp là giảm trương lực cơ tâm vị nên gây trào ngược thực quản, dạ dày vì vậy cần phối hợp thêm thuốc anti - H2.
Aspirin được dùng nhằm chống ngưng tập tiểu cầu.
   Điều trị khớp
Giảm đau, chống viêm không steroid hoặc liều thấp của corticoid (≤ 5-10mg/ngày).
Vận động liệu pháp, vật lý trị liệu, chỉnh hình thay thế nếu biến dạng nặng và hạn chế vận động.
   Tổn thương tim
Các thuốc chẹn kênh calci làm cải thiện rõ nét sự tưới máu cho cơ tim do giảm co thắt mạch máu nhỏ.
Cortiroid được dùng trong tràn dịch hoặc niêm màng ngoài tim phối hợp.
Điều trị ở bộ máy tiêu hoá
Điều trị tổn thương thực quản là chủ yếu:
Dùng thuốc kháng acid rất có hiệu quả trong tổn thương niêm mạc thực quản.
Ăn bữa nhỏ, nhiều bữa.
Primperan được dùng trong việc cải thiện vận động thực quản.
Điều trị cơn co mạch thận
Đây là tổn thuơng cấp tính dễ gây tử vong. Có thể điều trị bằng propranolon kèm thêm các thuốc chống đông máu. Giảm huyết áp bằng thuốc ức chế men chuyển.
Nhóm thuốc captopril (Lopril) có hiệu quả trong điều trị co mạch thận và tăng áp động mạch phổi trong xơ cứng bì.

   Điều trị các biểu hiện ở phổi
Không có điều trị thật hiệu quả cho xơ phổi. Tổn thương thường nặng dần và khó hồi phục, trong thể nhẹ có thể dùng D - pénicillamin, với thể nặng dùng methotrexat.
Với các thuốc corticoid, D - penicillamin và các thuốc ức chế miễn dịch cải thiện được dung tích sống trên thăm dò chức năng hô hấp.
Trong trường hợp xơ phổi có thể dùng corticoid 20mg/24h sau đó giảm liều và 125mg methotrexat trong 3 tháng.

- Với nhiều phương pháp kết hợp và tùy vào cơ địa của mỗi bệnh nhân. Trước khi điều trị cần khảo sát tình hình bệnh thực tế, trong quá trình điều trị cần theo dõi diễn biến của bệnh và phương pháp kết hợp điều trị cũng khác nhau, phù hợp và đúng chuyên gia về bệnh này thì mới mau khỏi và có kết quả tốt cho bệnh nhân. Với đội ngũ chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm về lĩnh vực chữa bệnh này chúng tôi tự tin cam kết hoàn tiền 100% nếu không có kết quả sau một liệu trình chữa bệnh. Liên hệ ngay với chuyên gia Công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo: 0935141438- Anh Lâm



Nguồn: Khoahocdoisong.org

Điều trị bệnh vẩy nến,á sừng,gầu da đầu.

http://www..benhvienthongminh..com
-  Bệnh vẩy nến (Psoriasis) được biết đến từ thời thượng cổ và là một trong những bệnh da rất hay gặp ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới. Theo thống kê, tỷ lệ bệnh vẩy nến khác nhau tùy từng vùng, từng châu lục, song nó dao động trong khoảng 1-3% dân số.
PGS. TS. Trần Hậu Khang 
-  Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu, song cho đến nay nguyên nhân và sinh bệnh học của bệnh vảy nến vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch và yếu tố di truyền. Ngoài ra một số yếu tố có ảnh hưởng, kích thích và làm bệnh tiến triển nặng thêm cũng được đề cập. Đó là các yếu tố: Stress, nghiện bia, rượu, thuốc lá, nhiễm trùng, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hóa, khí hậu, môi trường…
Một điều khẳng định chắc chắn là bệnh vẩy nến không phải là bệnh lây lan như bao người nhầm tưởng.

-  Bệnh vẩy nến (vảy nến) chiếm 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám Da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.
-  Theo y học cổ truyền, bệnh vảy nến gọi là tùng bì tiễn, là bệnh ngoài da mạn tính hay tái phát. Thương tổn cơ bản của bệnh vảy nến là đỏ da, có vảy nổi cộm ít hoặc da đỏ này thường có vảy trắng, xám phủ lên trên, phải cạo hết lớp vảy này mới thấy rõ. Bệnh hay phát vào mùa đông, ở da đầu và mặt ngoài của tay, chân; nặng thì phát ra toàn thân kèm theo sưng đau các khớp tay chân. Y học cổ truyền cho nguyên nhân của bệnh vảy nến là do huyết nhiệt, lại cảm phải phong hàn mà thành bệnh, lâu ngày làm huyết áp cao.

I.  Nguyên nhân
-  Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:
-  Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mùa).
II.  Vẩy nến có bao nhiêu thể ?

-  Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể chính: Thể thông thường và thể đặc biệt.
-  Trong thể thông thường, dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da, người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …
-  Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn. Đó là các thể: Vẩy nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

III.  Nhận diện
Vị trí đặc hiệu: Vùng da bị tỳ, cọ nhiều như khuỷ tay, đầu gối, mông, xương cùng, vùng mấu chuyển lớn.
-  Lúc đầu từng lớp vẩy bong ra như nến rồi đến màng bong là một màng rất mỏng. Khi màng đó đã được nạo đi sẽ thấy rướm máu lấm tấm, có lẫn cả tiết dịch trong giống như những giọt sương li ti, vì vậy còn được gọi là hiện tượng sương máu (phénomène de la rosée sanglante), có giá trị rất lớn để chẩn đoán.
Có trường hợp vẩy nến khu trú ở da đầu, ăn xuống rìa tóc hoặc ở lòng bàn tay, bàn chân, có khi lan ra toàn thân. Móng tay chân có thề dày, sần sùi, móng có vạch ngang, dễ gãy dưới móng có chứa bột trắng.
-  Nhiều trường hợp vảy nến nổi ngay trên các vết sẹo, vết sượt da, vết mổ, vết tiêm. Bệnh gây ngứa ít nhiều tuỳ từng theo từng người, tiến triển từng đợt, lúc ổn định, lúc vượng, có lúc tự nhiên khỏi. Thường hay tái phát theo mùa, có người nặng về mùa hè, có người nặng về mùa đông. Bệnh lâu ngày tính chất mùa không còn rõ rệt. Một số ít phụ nữ lúc mang thai bệnh nhẹ hoặc hết, sau sanh, da lại bị tổn thương hoặc nặng hơn.

- Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dầy màu trắng. Khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dầy lên so với trước đây.
- Vẩy nến ở móng: Móng dầy hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng.
- Vẩy nến ở khớp: Các khớp bị biến dạng, bệnh nhân khó vận động.
- Vẩy nến thể mủ: Trên da có các mụn mủ khô và nông.
- Vẩy nến thể đỏ da toàn thân.

IV.  Những điều cần tránh
Nhìn vào 5 yếu tố làm nên cơ chế sinh bệnh mà ta phải:
- Tránh căng thẳng (stress)
- Tránh kì cọ và bóc da (hiện tượng Kobner)
- Cẩn thẩn khi dùng thuốc nếu mắc thêm các bệnh về tim mạch.
- Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
- Tránh rượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương kị với các thuốc điều trị.
- Nên lạc quan với bệnh tật: do bệnh lành tính và phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả hơn. Hãy tin tưởng rằng trong tương lai không xa bệnh vẩy nến sẽ có các đột phá mới.

V.  Điều trị bằng y học hiện đại:
1.  Điều trị tại chỗ
Dùng các loại mỡ, kem, dung dịch với mục đích bong vẩy, tiêu sừng, hạn chế hình thành nhanh chóng vẩy da như:
- Mỡ Salicyle 5%, 10%
- Vitamin D3 và dẫn chất
- Goudron
2.  Điều trị toàn thân
- Acitretine: (Soriatane)
- Cyclosporin: (Neoral)
- Methotrexate
- Quang trị liệu: UVB phổ hẹp (UVBTL01)
- Quang hóa trị liệu: PUVA

5.  Chế độ sinh hoạt

-  Tắm mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa. Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.
-  Tránh gãi chỗ ngứa. Giữ da ấm. 
- Tránh làm tổn thương da, tránh kì cọ, côn trùng cắn, nhiễm vi khuẩn và vi rút, cháy nắng, stress, rượu và tăng cân.
- Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn tai mũi họng.
- Người bệnh nên giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, giữ tâm trạng thoải mái, không mặc cảm. Tránh tâm trạng bất an, bi quan quá lo buồn để tránh tái phát.

VI.  Một số phương pháp chữa vẩy nến bằng đông y:
Các nhà khoa học trường đại học Georgia đã phát hiện ra rằng trà xanh có thể chữa những bệnh về da như gàu, vẩy nến hay bệnh lupus.


1. Trà xanh chứa ít caffeine
- Trà xanh có thể chữa những bệnh về da như gàu,vảy nến
- Tinh chất trà xanh hòa với nước sẽ giúp làm chậm sự phát triển các triệu chứng của bệnh vẩy nến.
- Trà xanh là loại thuốc tốt.
- Trà xanh cũng làm chậm sự sản xuất các tế bào da bằng cách điều chỉnh lại hoạt động của enzyme caspase 14, caspase 14 có liên quan đến quá trình tái tạo da.
Đối với vẩy nến và một số bệnh về da khác, tế bào da thường sinh sôi nảy nở một cách không kiểm soát được, làm cho da dày hơn, xù xì và giống như vảy cá.
Vì vậy, các nhà khoa học khuyên rằng việc tắm bằng nước trà xanh có thể giúp chữa được những bệnh về da, rất an toàn và không tốn kém.

- Mặc dù trà xanh có chứa caffeine, nó vẫn chứa ít hơn nhiều hơn so với cà phê và trà đen. Điều này có nghĩa là nó sẽ không gây ra tác dụng tương tự như cà phê và trà đen như: buồn nôn, mất ngủ hoặc đi tiểu thường xuyên.
- Nghiên cứu về trà xanh cũng đã chỉ ra rằng nó ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư, đó là lý do tại sao trà xanh được coi như là một biện pháp phòng ngừa chống lại các loại ung thư khác nhau, đặc biệt là ung thư thực quản.Còn nhiều bệnh khác mà bạn chưa biết cách điều trị tận gốc hay phòng ngừa, mời bạn vào web benhvienthongminh..com để tham khảo phương pháp bảo vệ sức khỏe cho mình và người thân.

- Khi hệ thống miễn dịch không hoạt động bình thường, bạn sẽ cần đến sự hỗ trợ của trà xanh. Trong việc giảm cân, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng uống trà xanh sẽ giúp kiềm chế sự thèm ăn tốt hơn nhiều so với các loại thuốc. Nó cũng giúp nâng cao tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể và điều này sẽ giúp cơ thể đốt cháy chất béo với một tốc độ nhanh hơn rất nhiều.



2. Cây lược vàng

- Tháng 2-2010, Chị Trần Thị T, 48 tuổi ở số nhà 206, tầng 2, nhà A4 Tập thể Dệt Kim, phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội bị mẩn ngứa, xuất hiện các lớp vẩy ở hai khuỷu tay, lan dần ra hai thái dương, tóc rụng nhiều khi chải đầu. Nghĩ là bệnh ngoài da bình thường, chị rửa cồn, bôi thuốc mỡ không đỡ, đến Bệnh viện Da Liễu Hà Nội khám, xét nghiệm, được kết luận là viêm da cơ địa + rụng tóc, được điều trị bằng kem bôi và thuốc uống. Đột nhiên, đầu tháng 4 năm 2010 bệnh phát triển rất nhanh: Lớp vẩy lan ra hai tay, khắp người, cổ, mặt, toàn thân trông rất sợ, đầy vẩy, dưới lớp vẩy ứa máu, ngứa ngáy toàn thân, tóc rụng từng mảng, chị luôn phải mặc áo dài, đội mũ. Cả nhà vô cùng lo lắng, đưa đi khám lại và được kết luận là vẩy nến thể mảng, lại được điều trị bằng kem bôi và thuốc uống.
- Chị phải nghỉ bán hàng, người hốc hác, khó chịu, phải nằm thường xuyên, kiên trì uống thuốc, chấm bôi thuốc mỡ khắp người, vẩy rụng ra hàng vốc lại mọc mà không đỡ.Sốt ruột, nghe mách bảo, tháng 6-2011 chị đi khám Đông y Nguyễn Bỉnh Khiêm, uống hơn 30 thang thuốc, không thay đổi gì, lại quay lại khám Bệnh viện Da liễu được cấp thuốc mỡ, kem bôi và thuốc uống, kiên trì từ tháng 7 đến hết tháng 10-2010. Tháng 11-2010 chị chuyển sang khám tại Viện Da liễu Quốc gia (tại Bệnh viện Bạch Mai), sau khi sinh thiết, vẫn được kết luận là vẩy nến thể mảng, được cấp kem bôi và thuốc uống, tiếp tục kiên trì điều trị. Trong quá trình điều trị, chị còn được chạy xạ hai đợt tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội, mỗi đợt 5 ngày, mỗi ngày khoảng 5 phút, người đỏ như tôm luộc.
- Tuy biết vẩy nến không nguy hiểm ngay đến tính mạng, hiện chưa có thuốc đặc hiệu điều trị, có khi phải “chung sống”, nhưng cả gia đình chị hết sức lo lắng, vì chị là trụ cột chính của gia đình, lại phải nằm bẹp một chỗ.
Tháng 10-2010 tôi đến thăm chị. Lần đầu tiên nhìn thấy bệnh vẩy nến tôi cũng ghê sợ. Cầm trên tay cuốn sổ y bạ kẹp hơn hai chục tờ giấy xét nghiệm, đơn thuốc, hóa đơn; nhìn chị ngồi thu lu, rúm ró trên giường tôi ái ngại khuyên chị thử dùng cây Lược vàng và đưa cho chị cuốn “Cây Lược vàng quý hơn vàng” bản phô-tô, dặn đọc kĩ những trang đánh dấu về chữa bệnh vẩy nến.
- Gần Tết Tân Mão (2011), người nhà chị ở Nam Định gửi đến một bao tải dứa cây Lược vàng, chủ yếu là thân, vòi nhờ tôi ngâm rượu. Còn lá chị cho vào nhiều túi ni-lông, để vào tủ lạnh, dùng dần. Đúng 28 Tết, chị bắt đầu sử dụng: Ngày ăn 6 lá (lá dài trên 20cm), chia 3 lần trước bữa ăn 20 phút. Đập giập lá, lấy bã và nước xoa xát khắp người. Tạm dừng sử dụng các loại thuốc Tây. Sau 5 ngày, chị thấy người thay đổi: Toàn thân như căng ra, nhất là chân, tay, da căng mọng, chân các vẩy rớm máu, rất khó chịu. Đó là phản ứng có tác dụng như sách đã nói, thông báo cho tôi biết và tiếp tục kiên trì sử dụng.
- Thời gian tiếp theo là những tin đáng khích lệ: Toàn thân dịu dần, vẩy không ứa máu, tắm nước nóng ấm hằng ngày vẩy rụng rất nhiều, người thấy dễ chịu. Sau hai tháng, vẩy rụng hết, các vết bắt đầu lên da non, tóc không còn rụng. Chị sử dụng thêm rượu Lược vàng xoa khắp chỗ bị vẩy nến. Tháng 4-2011, da chân tay trở lại bình thường, sức khỏe hồi phục, chị lại đi bán hàng. Tháng 6-2011, chị cùng chồng, con đến thăm tôi, vui tươi, khỏe mạnh hơn trước, có thể do trút được gánh nặng lo âu về căn bệnh khó chịu chăng? - - Tôi khuyên chị duy trì sử dụng cho đến khi khỏi hẳn và tiếp tục dùng phòng bệnh tái phát. Gia đình và họ hàng chị cũng vô cùng phấn khởi, có người nói: “Đó là thuốc tiên dành cho người nghèo và mọi nhà đều phô-tô cuốn “Cây Lược vàng quý như vàng”, để sử dụng. Ngoài ra, một người trong họ từ tháng 5-2011 sử dụng Lược vàng để chữa trị biến chứng tiểu đường, đến nay đã có nhiều chuyển biến khả quan: Đường huyết hạ, mắt đỡ biến chứng, đang dần hồi phục.
- Còn chị T bệnh nhân vẩy nến, yên tâm vui vẻ ăn Tết Nhâm Thìn. Tôi thực sự vui lây và muốn chuyển lời cảm ơn của gia đình họ đến Báo Người cao tuổi, đến tác giả cuốn sách “Cây Lược vàng quý như vàng
- Dân gian dùng cây lược vàng chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể.
- Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ vàCanada, dịch ép từ cây lược vàng rất giàu các chất kích thích sinh học có tác dụng ngăn ngừa sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư. Những chất này còn có khả tratamlan năng chữa lành các bệnh mắt, viêm loét dạ dày tá tràng, hen suyễn, và nhiều bệnh khác nữa. Nó làm tăng quá trình biến dưỡng, làm tăng khả năng bảo vệ cơ thể và đồng thời thúc đẩy quá trình tái sinh (đổi mới) các tế bào trong cơ thể.
- Cây lược vàng có tên tiếng Anh là “basket plant” (cây giỏ - vì thường được trồng trong những giỏ nhỏ để trong nhà) tên Latinh là Callisia fragrans, thuộc họ thài lài Commelinaceae. Chính nhờ thành phần các chất sinh học hiện diện trong cây có tác dụng hiệu quả trên cơ thể người, mà cây lược vàng đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu.
- Toàn cây chứa các chất có hoạt tính sinh học gồm flavonoid, steroid và nhiều khoáng tố vi lượng có lợi cho sức khỏe. Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin P có khả năng làm bền mạch máu và tăng tác dụng của vitamin C.
- Những hoạt chất này còn có tác dụng giảm đau, an thần, kháng viêm, hoạt huyết, được dùng để chữa lành vết thương, vết bỏng, vết bầm tím. Dân gian dùng làm phương thuốc chữa bệnh loét dạ dày tá tràng, lợi tiểu, ngăn ngừa và điều trị các khối u trong cơ thể.
Hai chất flavonoid được xác định là quercetin và kaempferol. Quercetin là một chất chống oxy hóa tế bào mạnh, có khả năng kháng ung thư và tăng sức bền thành mạch, còn hữu ích trong trường hợp dị ứng, chảy máu thành mạch, viêm thận, thấp khớp, bệnh tim mạch, bệnh mắt và các bệnh nhiễm trùng.
Kaempferol giúp củng cố mao mạch, nâng đỡ thể trạng, tăng sự đào thải nước tiểu và khả năng kháng viêm, được dùng chữa viêm nhiễm, dị ứng và bệnh đường tiết niệu. Hai chất này hợp đồng cộng lực, nhờ đó mà hiệu quả điều trị được gia tăng.
Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp.
Coi chừng tác dụng phụ
Gần như loại thảo dược nào cũng có khả năng gây tác dụng phụ và cây lược vàng không là ngoại lệ. Các tác dụng phụ thường gặp nhất của việc sử dụng thảo dược này là tổn thương các dây thanh quản, gây dị ứng phát ban và sưng phù, đặc biệt là ở những người có hệ miễn dịch suy yếu và dễ dị ứng. Do đó, chỉ được chấp nhận sau khi có ý kiến của bác sĩ.
Tóm lại, cho dù đã được nghiên cứu nhưng đôi khi các kết quả vẫn chưa đủ để tạo chứng cứ khoa học cho một loại thuốc mới, nên vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để biết cách sử dụng, liều lượng, dạng thích hợp, không nên tự ý sử dụng và luôn nhớ một loại thuốc không thể chữa được nhiều bệnh cùng lúc.
MỘT SỐ CÁCH DÙNG CÂY LƯỢC VÀNG
Đặt cạnh bệnh nhân: Cây lược vàng có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp. Nên đặt những chậu cây lược vàng bên cạnh chỗ nằm của bệnh nhân viêm phổi hoặc ung thư phổi.
Dạng dầu:
Cách 1: Lấy toàn cây lược vàng đem ép lấy dịch, bã còn lại đem phơi khô. Khi đã khô thì bẻ vụn ra ngâm trong dầu ô liu, đậy kín trong khoảng ba tuần. Sau đó trộn chung và lọc qua gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thủy tinh màu, cất nơi mát.
Cách 2: Cắt cây lược vàng thành những mảnh nhỏ rồi cho hết vào một nồi chịu nhiệt, rót dầu thực vật vào nồi rồi đem bỏ vào lò hầm ở 40oC trong tám giờ. Sau đó lọc qua gạc mỏng, cho hỗn hợp dầu vào trong lọ thủy tinh màu, cất ở nơi mát.
Loại dầu này được dùng trị bệnh ngoài da hoặc để xoa chữa các chứng viêm khớp, cứng khớp hoặc bôi để xoa bóp giảm đau toàn thân.
Dạng thuốc mỡ:
Cắt nhỏ toàn cây và nghiền nát trong cối. Sau đó trộn với vaselin hoặc bột kem nhão để tạo thành một hỗn hợp theo tỷ lệ 2:3. Cho khối thuốc mỡ vào lọ thủy tinh màu, để nơi tránh ánh sáng.
Cách bào chế khác là ép lấy dịch chiết của cây và trộn với vaselin hoặc kem theo tỷ lệ 1:3, sau đó cũng cho vào lọ đậy kín, bảo quản nơi mát. Thuốc mỡ này được dùng để bôi lên các vùng da bị tê cóng, bầm tím, viêm loét da, và còn được áp dụng để chữa các trường hợp viêm khớp, cứng khớp và đau nhức.
Chú ý: Nên chọn những cây có ít nhất 9-10 đốt trở lên (không ngắn dưới 20cm), và có màu tím sậm vì lúc đó hàm lượng chất kích thích sinh học trong cây đạt mức tối đa.
Chất steroid trong cây chính là phytosterol. Chất này có hoạt tính estrogen, tác dụng sát khuẩn, chống xơ cứng và kháng ung thư. Cây lược vàng còn có khả năng tẩy uế không khí ô nhiễm trong phòng, phóng thích những chất có ích cho việc điều trị các bệnh thuộc đường hô hấp.

3. Trị bệnh bằng cây muồng trâu:

- Dùng lá và đọt tươi của cây Muồng Trâu rửa sạch rồi đâm nhuyễn lấy nước, sau đó pha với dung dịch kem thuốc điều trị bệnh lác nhãn hiệu KenTax  theo tỷ lệ 2/3 nước lá và đọt Muồng Trâu tươi với 1/3 dung dịch kem thuốc lác. Sau đó chấm bông gòn thoa hỗn hợp thuốc này vào vị trí những nơi bị vảy nến.



Chữa bệnh vẩy nến bằng các bài thuốc dân gian 

4. Kinh giới, rau má chữa vẩy nến

- Chữa bệnh vẩy nến bằng thuốc nam thì phải tùy vào từng thể trạng bệnh và cơ địa bệnh nhân mà cho gia giảm, vị thuốc khác nhau. Tuy nhiên bài thuốc chung cho bệnh này có thể dùng và rất hữu nghiệm những loại thuốc sau: Kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu ngựa, cây trinh nữ, bạc sau, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ..., mỗi thứ 10 - 12g. Đây là một thang thuốc uống trong 1 - 2 ngày. Ngay sau khi dùng mỗi thang thuốc uống xong phải lấy bã thuốc đun thêm ít nước và tắm, ngâm chân tay bằng nước thuốc đó để lớp da chết bong đi, tái tạo lớp da mới.
5. Bài thuốc của Tuệ Tĩnh: rễ cây núc nác 1 nắm, sinh địa 10 củ (trồng ở vườn) đều đập nát, thạch tín một ít, tán nhỏ, dấm chua 1 bát (200ml). Tất cả bỏ vào lọ, lấy bùn trát kín, đun cách thuỷ 10 giờ, rồi đem ra xức (ngửi). Không để thuốc vào mắt, mặt (thạch tín là thuốc độc bảng A). Nếu nổi vết đỏ, tròn bằng đồng tiền, ngứa, chảy nước vàng thì dùng: xương chó vàng 2 phần, vỏ trứng gà con so 1 phần, tóc rối 1 phần. Tất cả đốt ra tro, tán nhỏ, hoà dầu vừng, xát vào tổn thương. Ngày nay benhvienthongminh..com không áp dụng phương pháp cực khổ này mà muốn điều trị bệnh này rất tốn ít thời gian và cơ hội khỏi bệnh đến 90%.
6 .Chữa vẩy nến bằng lá ớt:
- Cách dieu tri vay nen bằng lá ớt:  Tinh tre đằng ngà cạo lấy một bát, lá ớt cay 1 nắm to (1 nắm chặt tay và đem sao chín nhưng không cháy), lá sống đời 7-9 lá, thiên niên kiện khoảng 300 g. Tất cả cho vào nồi với 2 lít nước, đun sôi kỹ, uống dần thay nước chè, uống chừng 3 ấm là khỏi.

VII. Những loại thức ăn hỗ trợ điều trị và phòng bệnh vẩy nến:

- Có nhiều nghiên cứu cho thấy một số loại thực phẩm có thể cải thiện bệnh tình người bị vẩy nến rất tốt mà người bệnh cần lưu ý: 
Rau quả có nhiều beta-caroten như bơ, cà rốt, đặc biệt là xoài, để bảo vệ cấu trúc mong manh của da.
- Cá biển loại có nhiều Omega-3 như cá hồi, cá thu, cá sa ba… Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu dùng 150 g Omega-3 mỗi ngày trong nhiều ngày liên tục có thể giảm lượng thuốc corticosteroid đến phân nửa mà không mất hiệu năng của thuốc nhờ Omega-3 có tác dụng ức chế các chất sinh viêm trong bệnh vảy nến như leucotriene 3 và 5.
- Bông cải xanh (broccoli) để bổ sung axít folic là tác chất sinh học giữ vai trò quan trọng trong tiến trình tổng hợp kháng thể. Chất này lại rất dễ thiếu đối với người bị bệnh vảy nến.
- Nghêu, sò nhằm cung ứng kẽm, khoáng tố tối cần thiết không chỉ cho da mà cho sức đề kháng. Người bị vảy nến không nên có định kiến phải tránh hải sản vì sợ các món ăn này gây thêm ngứa ngáy. Quan điểm đó chỉ đúng nếu người bệnh đã dị ứng với hải sản trước đó.
- Mè đen vì vừa chứa dầu béo có cấu trúc tương tự Omega-3 vừa cung cấp sinh tố E cần thiết cho lớp sợi collagen dưới da

Chế độ dinh dưỡng đối với người bị vảy nến

- Đậu phụ và đậu nành: Ở thời kì mãn kinh và đặc biệt là khi mức giảm cụ thể của hóc môn estrogen, sẽ liên quan đến việc giảm mạnh mức độ collagen. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hơn 30% của một loại collagen trong da sẽ bị mất trong 5 năm đầu tiên sau thời kì mãn kinh. Phụ nữ sau khi mãn kinh sẽ suy giảm hóc môn estrogen nghiêm trọng, đây là loại hóc môn sản sinh ra collagen. Vì vậy phụ nữ sau mãn kinh được khuyên nên bổ sung thêm các thực phẩm có chứa nhiều thành phần giúp tăng cường hóc môn etrogen
Rất thông dụng và phổ biến, đậu nành là loại thực phẩm rất dễ tìm và giá thành rẻ, trong đậu nành có nhiều chất phytoestrogens có tác dụng tương tự như estrogen. Các bạn nên tạo thói quen ăn nhiều đậu nành để cơ thể sản xuất collagen như bình thường sẽ giúp bạn có làn da đẹp và khỏe mạnh
- Quả việt quất
Quả Việt Quất


Thường xuyên bổ sung Vitamin C cho cơ thể, giúp bạn tránh được các bệnh về cảm cúm, hoặc các bệnh về máu do thiếu vitamin C. Ngoài ra Vitamin C là chất cần thiết để tạo nên collagen, giúp tăng cường mức độ chất chống oxy hóa trong cơ thể.
Vitamin C có nhiều trong các loại quả mọng, như quả việt quất, dâu tây... Các bạn nên bổ sung các loại quả này trong chế độ ăn hằng ngày.
Vitamin C là cần thiết để tạo nên collagen.
Rau quả màu đỏ
Cho dù có màu xanh hay đỏ, rau bina hay cà chua, rau quả màu đỏ cũng thuộc nhóm có khả năng thúc đẩy sản sinh collagen. Có thể kể đến củ cải đường, ớt, dưa hấu, nho đỏ. Rau củ màu đỏ chứa nhiều chất chống oxy hóa, nghĩa là chúng là những thực phẩm chống lão hóa tuyệt vời. Ngoài ra, chúng cũng thường giàu chất lycopene – giúp ngừa ung thư tuyến tiền liệt và giảm cholesterol.
Đối với da điều mà bạn sẽ thực sự thích về lycopene đó là nó giúp chống lại collagenase – những enzyme làm cho bạn trông già hơn bằng việc tiêu diệt collagen có trong cơ thể.
Đậu
Đậu được gọi  là “trái cây thần kỳ” vì chúng có chứa axit hyaluronic. Hãy nghĩ mà xem, axit hyaluronic có thể giữ nước, nghĩa là cung cấp nước cho da, giữ cho da đủ độ ẩm. Điều này giúp tăng độ đàn hồi cũng như sức khỏe của da, trả lại cho bạn một làn da săn chắc.
Để có hiệu quả tốt, bạn nên ăn ít nhất hai muỗng canh mỗi loại đậu hằng ngày.
Tỏi
Tỏi là gia vị cho cuộc sống tươi trẻ. Bạn đang tự hỏi không biết tỏi có tác dụng gì đối với collagen. Câu trả lời đó là sulfur. Bạn biết đấy, tỏi là một trong những thứ có nhiều sulfur. Collagen không thể tự sinh ra mà không có sulfur.
Cộng thêm axit lipoic cũng như taurine có trong tỏi và bạn có một thứ gia vị tuyệt vời. Mặt khác, hai loại axit này không thực sự sản sinh ra collagen nhưng chúng sẽ tái tạo lại chất xơ collagen đã bị phá hủy. Và có lẽ điều tuyệt nhất đó là tỏi sẽ mang lại cho bất kỳ món ăn nào của bạn một hương vị thật thơm ngon.
Cà Chua
Chúng ta đều biết cà chua chứa lượng lớn lycopene. Nhưng không phải ai cũng biết lycopene giúp loại bỏ men collagenases, một loại men phá hủy cấu trúc collagen. Để tận dụng hết lợi ích của cà chua, nên nấu chín hơn là ăn sống.

 Rau Có Màu Xanh Đậm
Các loại rau có lá màu xanh đậm được biết đến với sự giàu dinh dưỡng. Khi sử dụng các loại rau này hằng ngày, các tác nhân trong chúng giúp cho quá trình sản xuất collagen xảy ra nhanh hơn. Các loại rau điển hình mà chúng ta có thể sử dụng như cải pó xôi, măng tây và bông cải xanh. Các loại rau này không những giúp sản xuất collagen, chúng còn giúp cơ thể sử dụng collagen hiệu quả hơn.Nên tham khảo thêm các kiến thức khác về sức khỏe tại trang web benhvienthongminh..com
- Ăn uống hỗ trợ trị bệnh: Người bệnh vảy nến nên thường xuyên ăn cháo tang thầm, hồng táo: tang thầm (quả dâu tằm) 30g, hồng táo 10 quả, bách hợp 30g, gạo lức 100g. 3 vị trên cho nước ninh kỹ, sau khi bỏ bã cho gạo đã vo sạch vào nấu thành cháo. Ngày dùng 1 liều, ăn liền 1 tuần là một liệu trình, nghỉ 1 tuần, ăn tiếp và cứ ăn như thế đến khi bệnh thuyên giảm.
- Các thực phẩm từ Sữa. Giảm hoặc loại trừ các sản phẩm sữa, pho mai, kem và sữa chua trong chế độ ăn uống của bạn. Sữa góp phần tạo chất nhờn và làm trầm trọng thêm một số bệnh tự miễn. 

Tháp dinh dưỡng cơ bản

4.  Hạn chế:
- Kẻ thù của làn da là đường. Khi nói đến lão hóa, thực phẩm có đường hoặc các loại thực phẩm giàu tinh bột phân hủy thành đường sẽ là kẻ thù. (Rau và quả là những loại thực phẩm chứa lượng đường tự nhiên tuy nhiên lợi ích của nó là lớn hơn những nhược điểm mà nó mang lại).

- Thịt: vì chứa nhiều arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy. 
Nên lấy nguồn cung cấp protein cho cơ thể từ cá, ngũ cốc chưa qua chế biến (đậu xanh nguyên vỏ, gạo lức...)
- Rượu bia: vì độ cồn là đòn bẩy cho phản ứng thoái biến các loại chất đạm có tác dụng sinh dị ứng. Hơn nữa, tiến trình giải độc rượu của gan bị trì trệ rất nhiều ở người có cơ địa vảy nến.
- Đường: Giảm lượng đường trắng đã qua tinh chế cũng như frutose, đường từ ngô, mật ong và các chất làm ngọt khác. Hạn chế nước hoa quả ngọt và các loại hoa quả chứa nhiều đường.
- Tránh những thức ăn có men (yeast), các loại nước ngọt, trà đậm, cà phê thuốc lá, không ăn các chất cay nóng, mỡ heo, hạn chế ăn các loại chiên xào, các chất kích thích như ớt, tiêu...
- Tránh dùng những đồ nướng, rán: thịt, đậu, cá nướng rán vì có nhiều gốc tự do có thể làm tái phát bệnh vẩy nến.


VIII. Tổn thương do bệnh vảy nến
- Đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh thượng bì, sự tăng sinh này luôn lành tính và thường kết hợp với sự rối loạn biệt hóa tế bào và sự sản xuất một số Cytokine, dẫn đến một tiến trình viêm. Kết quả của sự tăng sinh thượng bì tạo nên một lớp vảy dày và sự bong vảy không ngừng.
-Tổn thương cơ bản
- Đặc trưng bởi những dát hay mảng, giới hạn rõ, màu đỏ, được phủ bởi lớp vảy dày.
- Lớp vảy: có giới hạn rõ, màu trắng bẩn, đục hay vàng óng ánh như mica. Lớp vảy có thể che phủ toàn bộ tổn thương vảy nến hoặc chỉ phủ ở phần trung tâm. Bề mặt của vảy đôi khi không đều, lớp vảy được cấu tạo bởi những phiến vảy mỏng, khô, kích thước và độ dày khác nhau, tách ra tự nhiên hay do va chạm khi thay áo quần.
- Đỏ da: lớp da đỏ có giới hạn rõ, nhẵn, khô, biến mất khi đè, mềm và hơi gồ lên so với xung quanh.
Thể da đỏ
Thể mưng mủ vàng

- Vị trí khu trú: tổn thương khu trú khắp cơ thể, có tính đối xứng, nhưng hay gặp nhất là vùng tỳ đè: khuỷu tay, đầu gối, vùng thắt lưng cùng và đầu.
- Ngứa: thường gặp với 25% trường hợp.
- Dùng thìa nạo cạo nhẹ trên bề mặt các tổn thương vảy nến từ 30 – 150 lần, ta sẽ thấy lần lượt các dấu hiệu sau: vết đèn cày; dấu vảy hành; giọt sương máu.
IX. Tiến triển
- Vảy nến là bệnh da khó điều trị, tiến triển từng đợt và thường tái phát. Những giai đoạn khỏi bệnh kéo dài từ vài tháng đến vài năm làm người bệnh nghĩ là bệnh đã lành hẳn, đôi khi giữa các đợt tái phát vẫn còn ít tổn thương ở đầu gối, khuỷu tay và đầu gọi là thành trì của vảy nến.
- Sự thoái lui của bệnh vảy nến theo nhiều cách khác nhau, có thể lành ở trung tâm tổn thương nhưng bờ lại lan rộng . Thương tổn vảy nến khi thoái lui thường không để lại sẹo nhưng để lại những dát giảm sắc, đôi khi là những dát tăng sắc được bao quanh bởi một vòng trắng da.
X. Biến chứng đáng sợ:
- April Armstrong, phó giáo sư da liễu tại UC Davis và điều tra viên chính của nghiên cứu này, và nhóm của bà đã xem xét tổng cộng 27 nghiên cứu đối với các bệnh nhân vẩy nến. Nghiên cứu tiến hành theo dõi sự phát triển của bệnh tiểu đường
 trong vòng từ 10 đến 22 năm. Qua đó tiến hành đánh giá tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu. Tổng cộng họ đã kiểm tra hơn 314.000 người có bị vẩy nến và so sánh chúng với 3,7 triệu người không có bệnh.Hiện tại ở Việt Nam đã có benhvienthongminh.com, bạn sẽ sớm chấm dứt đau khổ vì bệnh này nếu được điều trị bởi các chuyên gia tại đây.

- Kết quả nghiên cứu cho thấy: những bệnh nhân bị vẩy nến nhẹ có khả năng phát triển bệnh tiểu đường cao gấp 1,5 lần so với những người không bị vẩy nến. Và những bệnh nhân bị vẩy nến nặng có nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường cao gấp 2 lần so với những người bình thường.

- Nghiên cứu đánh giá phổ biến được tìm thấy bệnh nhân với bệnh vẩy nến có 27% nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường, so với công chúng.
- Bệnh vảy nến là một căn bệnh khá nguy hiểm với những biến chứng để lại khá nặng nề cho người bệnh. Ngoài những triệu chứng thường xuyên được nhắc tới thì rất nhiều trường hợp bệnh nhân vảy nến bị biến chứng viêm khớp và có đến 42% bệnh nhân vảy nến bị biến chứng viêm khớp gây ra nhiều khó khăn cho bệnh nhân trong cuộc sống hàng ngày.
- Nếu như bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp vảy nến không được điều trị sớm sẽ gây ra cho bệnh nhân những hệ lụy đáng tiếc như tiểu đường, tim mạch, bện lupus, bệnh béo phì và có thể dẫn đến tử vong cho bệnh nhân mắc phải nó.

nếu để lâu bạn bị tiểu đường và lỡ loét

Viêm khớp nằm liệt không cử động được


- Hầu hết những bệnh nhân bị bệnh vảy nến trước viêm khớp từ vài  tháng đến nhiều năm. Viêm khớp thường xuyên liên quan đến đầu gối, mắt cá chân, và khớp xương ở bàn chân. Sưng khớp là dấu hiệu phổ biến và thường trở nên tồi tệ hơn vào sáng sớm. Bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp vảy nến có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân.

 - Bạn bị vẩy nến hay muốn phòng ngừa bệnh này hãy áp dụng ngay các phương pháp trên vì tương lai và cuộc sống cho chính bản thân mình. Nếu bị thể nặng hãy liên lạc với benhvienthongminh..com để được điều trị sớm nhất tránh gây ra các bệnh khác do biến chứng lâu ngày.



bệnh này rất dễ trị nếu có bí quyết và am hiểu về bệnh lý, tùy theo cơ địa mỗi người mà có phương pháp điều trị khác nhau, trên thế gian này không có 1 loại thuốc mà chữa cho tất cả mọi người, chúng tôi với nhiều năm kinh nghiệm đã chữa khỏi cho rất nhiều người. Với phương pháp thảo dược thiên nhiên 100% từ nhiều nguồn ở Việt nam và trên thế giới, chúng tôi tự hào cam kết hoàn tiền 100% nếu sau 1 liệu trình mà bệnh không thuyên giảm. Dừng đi tìm đâu xa để tốn thời gian và tiền bạc. Vui lòng liên hệ với chúng tôi để gặp chuyên gia về bệnh này tư vấn: 0935141438- Mr Lâm.