Hiển thị các bài đăng có nhãn tác hại của thuốc tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tác hại của thuốc tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Vì sao uống thuốc lại run tay?

http://www.benhvienthongminh.com

Các thuốc gây run chân, tay và cách hạn chế

Thuốc là con dao hai lưỡi, có khả năng gây nên nhiều loại tác dụng phụ khác nhau. 

Một trong những tác dụng mặt trái của thuốc là gây run tay chân.


Trong đó, thuốc có thể là nguyên nhân trực tiếp gây run hoặc là yếu tố thúc đẩy tình trạng run đã tiềm tàng.

Vì sao uống thuốc lại run?
Chứng run do thuốc là một rối loạn vận động không chủ ý xảy ra khi người bệnh sử dụng một số loại thuốc khiến việc di chuyển, điều khiển cánh tay, bàn tay, chân trở nên khó khăn, thậm chí ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.
Các triệu chứng run có thể xuất hiện ở bàn tay, cánh tay, đầu, hoặc trên mí mắt, chân bị ảnh hưởng ít hơn. Trong hầu hết các trường hợp, run do thuốc thường đối xứng, xảy ra chủ yếu ở người lớn tuổi, người có suy giảm chức năng gan thận hoặc các bệnh lý thực thể ở hệ thần kinh trung ương (như nhồi máu não, bệnh xơ cứng rải rác), người có tâm lý hay lo lắng hoặc người phải sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc...

Các thuốc có thể gây run
Thuốc giãn phế quản: Các thuốc cường bêta giao cảm tác dụng nhanh như salbutamol, isoprenaline, terbutalin được ghi nhận gây run. Run do các thuốc này phụ thuộc liều và thường xảy ra sau dùng đường tiêm truyền và đường uống. Các thuốc cường bêta 2 tác dụng kéo dài như salmeterol ít có nguy cơ gây run hơn so với các thuốc trên. Theophylline và aminophylline cũng có thể khởi phát tình trạng run tiềm tàng khi được dùng đường tiêm truyền.
Các thuốc an thần: Các thuốc an thần kháng dopamin như thioridazine, fluphenazine và chlorpromazine có tỷ lệ gây run cho người sử dụng khá cao, có thể run khi vận động hoặc cả lúc nghỉ, phụ thuộc vào thuốc và liều dùng. Các thuốc an thần không điển hình như risperidone, olanzapine, quetiapine và ziprasidone ít gây run hơn các thuốc trên, thường chỉ ở liều cao.
Nội tiết tố: Run là một biểu hiện thường gặp khi dùng quá liều levothyroxine và cũng là một trong những tác dụng phụ rất hay gặp của adrenalin (hormon của tuỷ thượng thận) và medroxyprogesterone acetate.
Thuốc chống trầm cảm: Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng như amitriptyline có thể gây biểu hiện run khi vận động ở một số bệnh nhân, triệu chứng này thường giảm dần trong quá trình điều trị. Run cũng là một tác dụng phụ thường gặp nhất của các thuốc ức chế chọn lọc serotonin như fluoxetine… Run cũng có thể xảy ra khi ngưng dùng đột ngột các thuốc này (hội chứng cai thuốc).
Thuốc chống loạn nhịp tim: Amiodarone có thể gây run ở khoảng 1/3 số người dùng thuốc, cơ chế hiện còn chưa được biết rõ. Run do amiodarone thường phụ thuộc vào tư thế và tăng lên khi tập trung làm việc. Procainamide và mexiletine cũng được ghi nhận có liên quan với biểu hiện run, trong đó, mexiletine có thể gây run, chóng mặt và giảm trí nhớ ở khoảng 10% số người dùng thuốc. Run do procainamide tương đối hiếm gặp.
Thuốc kháng khuẩn, diệt virut: Một số thuốc diệt virut như vidarabine, aciclovir cũng được ghi nhận gây ra biểu hiện run ở một số bệnh nhân dùng thuốc, thường xuất hiện sau điều trị 5-7 ngày và giảm dần sau khi ngưng thuốc vài ngày. Kháng sinh co-trimoxazole có thể gây ra biểu hiện run cả lúc nghỉ ngơi và khi vận động.
Thuốc chống động kinh: Mặc dù các thuốc chống động kinh có thể được sử dụng trong điều trị một số thể run tiên phát nhưng đa số các thuốc này lại cũng có khả năng gây run. Valproic acid có thể gây run ở khoảng 80% số người dùng thuốc.
Run do valproic acid thường liên quan đến vận động và thay đổi tư thế, có thể run ở cả đầu và thân mình, liên quan với liều dùng và thường giảm dần trong vòng vài tuần sau khi giảm liều hoặc ngưng thuốc. Một số thuốc chống động kinh khác như tiagabine, gabapentin, lamotrigine và oxcarbazepine cũng được ghi nhận gây run ở gần 20% số người dùng thuốc.

Cần làm gì khi bị run do thuốc?
Khi hiện tượng run xuất hiện cùng với thời điểm dùng thuốc thì cũng có thể nghĩ đến nguyên nhân gây run là do thuốc điều trị. Nếu gặp trường hợp này, hãy trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc đang dùng, đặc biệt là những thuốc có chứa chất kích thích hoặc theophylline. Ngoài ra, nếu bạn bị run, cần tránh sử dụng các loại chất kích thích như cafein và các đồ uống chứa caffein như cà phê, trà, soda vì có thể làm cho biểu hiện run tăng nặng hơn.
Run do thuốc thường sẽ giảm và hết khi ngừng sử dụng thuốc. Tuy nhiên, nếu run kéo dài hoặc không dừng lại khi ngừng thuốc thì cần kiểm tra để loại trừ các lý do khác gây run như: bệnh Parkinson, rối loạn thần kinh thực vật, bệnh cường giáp...

Kết luận: Nếu bạn trị theo phương pháp thuốc tây thì những di chứng để lại không phải chỉ run tay mà còn rất nhiều hệ lụy khác như hại gan, hại thận,hại tim,hại bao tử và tích tụ độc chất vào người. Sức khỏe của bạn sẽ không được tăng lên khi hết bệnh mà thường giảm đáng kể. Chúng tôi benhvienthongminh.com áp dụng phương pháp đông y kết hợp công nghệ hiện đại của tây y bào chế ra sản phẩm độc đáo, vừa giúp bạn khỏi bệnh vừa giúp bạn tăng cường sức khỏe, bạn sẽ nhận được kết quả hết bệnh và sức khỏe cải thiện rõ rệt. Sức khỏe là vàng với ưu thế này chúng tôi cam kết hoàn tiền nếu bạn không hết bệnh và sức khỏe không tăng trưởng sau hết bệnh.
Theo DS. Đức Thành - Sức khỏe và Đời sống

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Thuốc giảm mỡ máu, được và mất gì?

http://www.benhvienthongminh.com    
Kiến Thức) - Thuốc giảm mỡ máu là thuốc có tác dụng giúp cho các chất béo (mỡ) có trong máu như cholesterol toàn phần, trở lại giới hạn bình thường.
Thuốc giảm mỡ máu (hay thuốc hạ mỡ máu) là thuốc có tác dụng giúp cho các chất béo (thường gọi là mỡ) có trong máu như cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, HDL-cholesterol, triglycerid trở lại giới hạn bình thường.
Có nhiều nhóm thuốc hạ lipid huyết như nhóm statin, nhóm fibrat (clofibrate, fenofibrat, gemfibrozil),nhóm resin gắn axít mật (cholestyramin), niacin (tức vitamin PP) và thuốc mới là ezetimib. Thuốc được dùng phổ biến hiện nay chính là nhóm statin, gồm có: simvastatin (biệt dược Zocor), lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), fluvastatin (Lescol), atorvastatin (Lipitor), rosuvastatin (Crestor).
Thuốc giảm mỡ máu được và mất gì? 
Các statin còn được gọi là nhóm thuốc ức chế men khử HMG-CoA vì cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế cạnh tranh men 3-hydroxy-3 metyl-glutaryl coenzym A reductase (viết tắt HMG-CoA reductase). Men khử HMG-CoA bị thuốc ức chế không xúc tác phản ứng tạo ra cholesterol ở gan sẽ làm giảm cholesterol trong máu xuống. Các statin còn có tác dụng làm tăng số lượng thụ thể của LDL-cholesterol (viết tắt LDL-c, còn gọi là cholesterol “xấu”) nhằm tăng sự thoái hoá và làm giảm cholesterol “xấu” này xuống mức mong muốn. Các statin cũng làm tăng một ít HDL-cholesterol (HDL-c, còn gọi là cholesterol “tốt”). Tuy nhiên các statin không có tác dụng làm giảm triglycerid trong máu.
Thuốc giảm mỡ máu & tác dụng phụ nguy hiểm
Các tác dụng phụ đã biết: Statin là nhóm thuốc chuyên dùng để điều trị rối loạn lipid máu. Các tác dụng phụ đã được biết đến của nhóm thuốc này bao gồm:
- Gây tiêu cơ vân: Thuốc gây tổn thương, tiêu cơ vân, giải phóng ra các chất bên trong tế bào trong đó có myoglobulin làm nghẽn thận dẫn đến suy thận gây tử vong. Các yếu tố thuận lợi làm xuất hiện, tăng nặng tác dụng phụ này là: người vốn có bệnh viêm cơ lan tỏa, bị nhiễm khuẩn nặng, hạ huyết áp, có các tổn thương lớn, có bất thường về chuyển hóa, đặc biệt khi dùng phối hợp với một số thuốc khác.
- Làm thay đổi chức năng gan: Statin chuyển hóa, không tích lũy ở gan, không gây độc cho gan. Tuy nhiên, một số người dùng statin bị tăng enzym gan. Sau khi ngừng dùng, enzym gan có người trở về bình thường, nhưng cũng có người không trở về mức bình thường. Cần kiểm tra enzym gan trước khi dùng, trong vòng 12 tuần sau khi điều trị hay sau khi tăng liều, sau đó kiểm tra định kỳ mỗi 4 tuần/lần trong thời gian dùng. Nếu thấy enzym gan tăng bất thường, cần theo dõi chặt chẽ, ngừng hẳn thuốc nếu enzym gan tăng gấp 3 lần so với mức bình thường. Thận trọng với người nghiện rượu, viêm gan tắc mật do chức năng gan suy giảm, thuốc khó dung nạp, chuyển hóa.
Statin làm tăng enzym gan.
- Với người có thai, cho con bú: Cholesterol là nguyên liệu cần thiết để tổng hợp các chất khác (như hormon), statin ức chế tổng hợp cholesterol gây hại cho quá trình phát triển thai. Statin còn tiết vào sữa… Vì vậy, không dùng cho người có thai, cho con bú.
Tác dụng phụ mới phát hiện:
Cách đây 2 năm (2012), FDA đã đưa ra khuyến cáo toàn bộ nhóm thuốc statin có nguy cơ gây mất trí nhớ, nhầm lẫn, tăng đường huyết, gây bệnh tiểu đường typ 2.
Như vậy, statin là thuốc chống hội chứng chuyển hóa nhưng lại gây ra bệnh trong hội chứng chuyển hóa. Nghịch lý này được PGS. Beatrice Golomb, đại học y khoa San Diego (Mỹ), sau khi hồi cứu phân tích 900 công trình nghiên cứu, lý giải: Ty lạp thể sản xuất ra phần lớn các gốc tự do có hại. Tại đó, cơ thể sinh ra các chất chống oxy hóa nội sinh như coenzym- 10 để vô hiệu hóa chúng. Statin ức chế tổng hợp cholesterol đồng thời cũng ức chế sự tổng hợp, chuyên chở coenzym- 10 và những chất chống oxy hóa hòa tan trong mỡ khác. Sự sụt giảm coenzym- 10 dẫn đến sụt giảm năng lượng tế bào, giảm bớt sự sản xuất năng lượng, tăng thêm gốc tự do. Đến lượt mình, những gốc tự do tăng thêm này lại làm hư hại ty lạp thể. Khi ty lạp thể bị hư hại thì quá trình mất năng lượng tăng thêm gốc tự do lại tiếp tục. Đó là vòng lẩn quẩn và việc dùng liều cao sẽ không dứt ra khỏi vòng lẩn quẩn này.
Liên hệ tư vấn hỗ trợ điều trị bệnh mỡ máu cao: 0935141438
PV


Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Mặt trái nguy hiểm của thuốc giảm đau

http://www.benhvienthongminh.com

Khảo sát cho thấy tác dụng phụ của thuốc giảm đau, đặc biệt là ibuprofen gây ra cái chết cho khoảng 1.000 người mỗi năm.

Thường xuyên sử dụng thuốc giảm đau có thể gây ra biến chứng liên quan đến các bệnh gan và thận. Để sử dụng thuốc giảm đau hợp lý và tránh tác dụng phụ của thuốc, tốt nhất hay đi khám bác sĩ để biết nguyên nhân của sự đau đớn, mức độ nghiêm trọng của bệnh. Từ đó, bác sĩ sẽ kê đơn và phác đồ điều trị phù hợp với từng thể trạng.
Dưới đây là những ảnh hưởng nguy hiểm của thuốc giảm đau:
      
Ảnh minh họa
Tổn thương gan
Thuốc giảm đau, đặc biệt là paracetamol có thể có hại cho gan do chất peroxit được hình thành bởi sự chuyển hóa của paracetamol trong cơ thể. Do vậy cần chú ý đến liều lượng khi sử dụng paracetamol. Uống 8 viên (500 mg) trong một ngày có thể gây ra tổn thương gan cấp tính nghiêm trọng, đặc biệt ở những người hay uống rượu và có tiền sử bệnh gan từ trước.
Loét dạ dày
Thuốc giảm đau như ibuprofen, aspirin và naproxen gây kích ứng tổn thương cho dạ dày, thậm chí viêm loét và chảy máu dạ dày.
Trầm cảm
Thuốc giảm đau làm giảm tác dụng của thuốc trị trầm cảm. Những người bị trầm cảm nên hạn chế dùng thuốc giảm đau.
Suy thậnThuốc giảm đau như ibuprofen, naproxen có thể gây tổn thương thận và suy thận cho những người có bệnh tiểu đường và huyết áp cao, đặc biệt những người có tiền sử bệnh thận.
Sẩy thaiPhụ nữ uống thuốc giảm đau trong 20 tuần đầu của thai kỳ có nhiều nguy cơ sẩy thai. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng thuốc giảm đau gây trở ngại cho các kích thích tố quan trọng trong chuyển dạ. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất cứ loại thuốc giảm đau nào nếu bạn có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai.
Loãng máu
Thuốc giảm đau như aspirin, ibuprofen và naproxen có khả năng làm loãng máu. Aspirin mang lại nhiều lợi ích cho người có vấn đề về đông máu và bệnh tim. Tuy nhiên người đã và đang dùng thuốc làm loãng máu như Coumadin nên tránh tất cả các loại thuốc giảm đau vì chúng có thể gây chảy máu.
Kích ứng dạ dày
Một trong những tác dụng phụ thường gặp của thuốc giảm đau là kích thích dạ dày, nhất là uống thuốc trong khi dạ dày đang trống rỗng. Bạn có thể bị nôn và ợ nóng.

Và các sai lầm khi uống thuốc:
SKĐS - Chia sẻ đơn thuốc với người khác, tích trữ thuốc đến hết hạn, dùng nhiều thuốc cùng hoạt chất... là những sai lầm thường gặp trong sử dụng thuốc giảm đau.
Chia sẻ đơn thuốc với người khác, tích trữ thuốc đến hết hạn, dùng nhiều thuốc cùng hoạt chất... là những sai lầm thường gặp trong sử dụng thuốc giảm đau.
Chuyện kể rằng, vợ Dâu có một số thuốc percocet (thuốc tổng hợp gồm paracetamol và oxycodone) còn lại từ một lần đi khám răng, cùng lúc có một lọ tylenol (paracetamol) ở phía trên chậu rửa. Dâu lấy mỗi loại 2 viên và uống trôi cùng với một cốc bia.
Thật may mắn vì Dâu chỉ là nhân vật hư cấu cho bài viết này. Nhưng thực tế có rất nhiều Dâu trong đời thường đã mắc những sai lầm lớn với những thuốc không cần đơn (OTC - over the counter) cũng như những thuốc cần đơn.
Dưới đây là một số sai lầm khi dùng thuốc giảm đau mà các chuyên gia của Hiệp hội Dược sĩ Mỹ đã chỉ ra, những sai lầm này cũng rất thường gặp ở Việt Nam chúng ta.
Uống thuốc giảm đau cần theo chỉ định của bác sĩ, không dùng quá liều chỉ định.
Nếu 1 là tốt, 2 có lẽ tốt hơn
Một số người khi dùng liều thuốc đầu tiên để giảm đau, nhưng sau vài phút không thấy đau giảm lại tiếp tục uống thêm một liều nữa với suy nghĩ “một liều đã tốt rồi thì 2 liều có lẽ tốt hơn”. Suy nghĩ này là vô cùng nguy hiểm vì nếu bạn làm vậy, rất có thể bạn sẽ được đưa đến phòng cấp cứu. Thường khi bác sĩ kê đơn thuốc giảm đau cho bạn, họ đã phải cân nhắc về lợi ích và tác hại để đưa ra liều cho tác dụng tốt nhất với tác dụng phụ ít nhất. Việc tăng gấp đôi hoặc gấp ba liều lượng sẽ không làm tăng tác dụng điều trị mà ngược lại nó có thể làm tăng tác dụng phụ có hại.
Một trường hợp khác cũng vô cùng tai hại đó là dùng cùng lúc nhiều loại thuốc giảm đau mà bạn có như paracetamol, ibuprofen và naproxen..., điều này cũng làm gia tăng các tác dụng phụ có hại mà bạn có thể gặp phải.
Bởi vậy, nếu bạn đã uống thuốc giảm đau đúng chỉ dẫn về liều lượng mà sau một thời gian nó vẫn không kiểm soát cơn đau, bạn không được tăng liều gấp đôi hoặc dùng thêm thuốc khác, mà cần gặp bác sĩ để bác sĩ có thể thay đổi phương thức điều trị cho bạn.
Quá liều do dùng thuốc cùng hoạt chất
Nhiều người thường dùng thuốc giảm đau OTC và thậm chí cả thuốc giảm đau theo đơn mà không đọc nhãn và thành phần của thuốc. Có nghĩa là họ thường không biết được loại thuốc họ đang dùng. Điều đó không bao giờ là một ý tưởng tốt, vì có thể bạn sẽ dùng các thuốc có cùng thành phần và gây nên tình trạng quá liều.
Trong trường hợp của Dâu, anh ta lấy 2 viên thuốc giảm đau theo đơn (percocet) có chứa paracetamol cùng với một liều đầy đủ thứ hai của paracetamol từ tylenol, làm anh ta có nguy cơ bị tổn thương do quá liều paracetamol.
Uống thuốc giảm đau cùng với rượu, bia
Sai lầm này làm tăng hiệu quả của nhau. Rượu làm bạn say và một số thuốc giảm đau làm tăng cảm giác đó. Trong một số trường hợp khác, rượu làm bạn đau đầu và bạn dùng thuốc giảm đau để chữa. Nhưng bạn cần nhớ rằng, sử dụng kết hợp thuốc giảm đau và rượu sẽ làm tăng tác hại lên gan, vì bản thân rượu và thuốc giảm đau riêng rẽ đều là những thứ không tốt cho gan.
Đó là lý do tại sao nhiều loại thuốc được gán nhãn “no alcohol” (không dùng đồ uống có cồn). Nhãn này được ký hiệu bởi một cái ly rượu, xung quanh là ký hiệu “không” mang tính quốc tế với vòng tròn và dấu gạch chéo. Ký hiệu này được áp dụng cho cả rượu và bia.
Tương tác thuốc
Trước khi dùng bất cứ loại thuốc giảm đau nào, bạn hãy nghĩ xem mình có đang dùng một loại thuốc, thảo dược hay thực phẩm chức năng nào khác hay không. Một vài loại thuốc và thực phẩm chức năng này có thể tương tác với thuốc giảm đau hoặc làm tăng nguy cơ tác dụng phụ.
Ví dụ, aspirin có thể ảnh hưởng đến tác dụng của một số loại thuốc tiểu đường non-insulin; codeine và oxycodone có thể làm giảm tác dụng của thuốc chống trầm cảm.
Uống thuốc khi lái xe
Thuốc giảm đau có thể làm cho bạn buồn ngủ và gây nguy hiểm khi lái xe. Nhưng không phải ai cũng có phản ứng giống nhau với các loại thuốc. Vì vậy các chuyên gia khuyên bạn nên thử trước loại thuốc đó ở nhà để xem nó có gây cho bạn cảm giác buồn ngủ hay không.
Chia sẻ đơn thuốc với người khác
Đây là điều rất phổ biến ở Việt Nam và thậm chí là cả ở những nước phát triển. Điều này rất nguy hiểm cho người được chia sẻ vì có thể gây ra cho họ tình trạng dị ứng, tương tác thuốc hoặc quá liều.
Không trao đổi với dược sĩ
Các quảng cáo giới thiệu thuốc đều khuyến cáo “Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”, nhưng quả thật không phải dễ dàng để đọc và hiểu được các hướng dẫn đó. Bởi vậy, bạn nên đề nghị với dược sĩ hoặc người bán thuốc hướng dẫn bạn cặn kẽ cách dùng thuốc và các nguy cơ ngay tại cửa hàng.

Tích trữ thuốc hết hạn
Vợ Dâu thực sự đã có lỗi trong sai lầm của anh ấy. Đáng lẽ cô ấy nên vứt bỏ những viên thuốc giảm đau này từ khi cố ấy hết đau răng. Lý do là thuốc được lưu trữ ở nhà bắt đầu phân hủy ngay sau khi hết hạn, đặc biệt đúng với các thuốc giữ trong môi trường ẩm ướt của tủ thuốc phòng tắm. Dùng thuốc quá hạn sẽ không còn tác dụng chữa bệnh, thậm chí bạn còn có thể bị ngộ độc do các sản phẩm phân hủy của thuốc.
Bẻ viên thuốc không được bẻ
Viên thuốc thực sự là những cái máy nhỏ để vận chuyển thuốc. Chúng sẽ không còn hữu dụng khi chúng bị bẻ ra theo cách không được phép. Cần lưu ý, chỉ những viên thuốc có khía rãnh mới được phép bẻ ra, còn tất cả các thuốc không có rãnh đều không được bẻ.

Vậy bây giờ phải làm sao:
Bạn có vấn đề gì về sức khỏe tốt nhất liên hệ benhvienthongminh.com để tư vấn và hướng dẫn cặn kẽ. Bởi lẽ mỗi người có cơ địa khác nhau. Không nói chính xác được, phải tủy theo bệnh và cơ thể mà hướng dẫn bệnh nhân có sức khỏe tuyệt vời theo các cách khác nhau. Không rập khuôn cứng nhắc được. Người già áp dụng khác, người trẻ áp dụng khác, người mang thai áp dụng khác.

BS. Mai Trung Dũng



Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

Thuốc giảm mỡ máu, được và mất gì?

http://www.benhvienthongminh.com    
Kiến Thức) - Thuốc giảm mỡ máu là thuốc có tác dụng giúp cho các chất béo (mỡ) có trong máu như cholesterol toàn phần, trở lại giới hạn bình thường.
Thuốc giảm mỡ máu (hay thuốc hạ mỡ máu) là thuốc có tác dụng giúp cho các chất béo (thường gọi là mỡ) có trong máu như cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, HDL-cholesterol, triglycerid trở lại giới hạn bình thường.
Có nhiều nhóm thuốc hạ lipid huyết như nhóm statin, nhóm fibrat (clofibrate, fenofibrat, gemfibrozil),nhóm resin gắn axít mật (cholestyramin), niacin (tức vitamin PP) và thuốc mới là ezetimib. Thuốc được dùng phổ biến hiện nay chính là nhóm statin, gồm có: simvastatin (biệt dược Zocor), lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), fluvastatin (Lescol), atorvastatin (Lipitor), rosuvastatin (Crestor).
Thuốc giảm mỡ máu được và mất gì? 
Các statin còn được gọi là nhóm thuốc ức chế men khử HMG-CoA vì cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế cạnh tranh men 3-hydroxy-3 metyl-glutaryl coenzym A reductase (viết tắt HMG-CoA reductase). Men khử HMG-CoA bị thuốc ức chế không xúc tác phản ứng tạo ra cholesterol ở gan sẽ làm giảm cholesterol trong máu xuống. Các statin còn có tác dụng làm tăng số lượng thụ thể của LDL-cholesterol (viết tắt LDL-c, còn gọi là cholesterol “xấu”) nhằm tăng sự thoái hoá và làm giảm cholesterol “xấu” này xuống mức mong muốn. Các statin cũng làm tăng một ít HDL-cholesterol (HDL-c, còn gọi là cholesterol “tốt”). Tuy nhiên các statin không có tác dụng làm giảm triglycerid trong máu.
Thuốc giảm mỡ máu & tác dụng phụ nguy hiểm
Các tác dụng phụ đã biết: Statin là nhóm thuốc chuyên dùng để điều trị rối loạn lipid máu. Các tác dụng phụ đã được biết đến của nhóm thuốc này bao gồm:
- Gây tiêu cơ vân: Thuốc gây tổn thương, tiêu cơ vân, giải phóng ra các chất bên trong tế bào trong đó có myoglobulin làm nghẽn thận dẫn đến suy thận gây tử vong. Các yếu tố thuận lợi làm xuất hiện, tăng nặng tác dụng phụ này là: người vốn có bệnh viêm cơ lan tỏa, bị nhiễm khuẩn nặng, hạ huyết áp, có các tổn thương lớn, có bất thường về chuyển hóa, đặc biệt khi dùng phối hợp với một số thuốc khác.
- Làm thay đổi chức năng gan: Statin chuyển hóa, không tích lũy ở gan, không gây độc cho gan. Tuy nhiên, một số người dùng statin bị tăng enzym gan. Sau khi ngừng dùng, enzym gan có người trở về bình thường, nhưng cũng có người không trở về mức bình thường. Cần kiểm tra enzym gan trước khi dùng, trong vòng 12 tuần sau khi điều trị hay sau khi tăng liều, sau đó kiểm tra định kỳ mỗi 4 tuần/lần trong thời gian dùng. Nếu thấy enzym gan tăng bất thường, cần theo dõi chặt chẽ, ngừng hẳn thuốc nếu enzym gan tăng gấp 3 lần so với mức bình thường. Thận trọng với người nghiện rượu, viêm gan tắc mật do chức năng gan suy giảm, thuốc khó dung nạp, chuyển hóa.
Statin làm tăng enzym gan.
- Với người có thai, cho con bú: Cholesterol là nguyên liệu cần thiết để tổng hợp các chất khác (như hormon), statin ức chế tổng hợp cholesterol gây hại cho quá trình phát triển thai. Statin còn tiết vào sữa… Vì vậy, không dùng cho người có thai, cho con bú.
Tác dụng phụ mới phát hiện:
Cách đây 2 năm (2012), FDA đã đưa ra khuyến cáo toàn bộ nhóm thuốc statin có nguy cơ gây mất trí nhớ, nhầm lẫn, tăng đường huyết, gây bệnh tiểu đường typ 2.
Như vậy, statin là thuốc chống hội chứng chuyển hóa nhưng lại gây ra bệnh trong hội chứng chuyển hóa. Nghịch lý này được PGS. Beatrice Golomb, đại học y khoa San Diego (Mỹ), sau khi hồi cứu phân tích 900 công trình nghiên cứu, lý giải: Ty lạp thể sản xuất ra phần lớn các gốc tự do có hại. Tại đó, cơ thể sinh ra các chất chống oxy hóa nội sinh như coenzym- 10 để vô hiệu hóa chúng. Statin ức chế tổng hợp cholesterol đồng thời cũng ức chế sự tổng hợp, chuyên chở coenzym- 10 và những chất chống oxy hóa hòa tan trong mỡ khác. Sự sụt giảm coenzym- 10 dẫn đến sụt giảm năng lượng tế bào, giảm bớt sự sản xuất năng lượng, tăng thêm gốc tự do. Đến lượt mình, những gốc tự do tăng thêm này lại làm hư hại ty lạp thể. Khi ty lạp thể bị hư hại thì quá trình mất năng lượng tăng thêm gốc tự do lại tiếp tục. Đó là vòng lẩn quẩn và việc dùng liều cao sẽ không dứt ra khỏi vòng lẩn quẩn này.
Liên hệ tư vấn hỗ trợ điều trị bệnh mỡ máu cao: 0935141438
PV


Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Vì sao uống thuốc lại run tay?

http://www.benhvienthongminh.com

Các thuốc gây run chân, tay và cách hạn chế

Thuốc là con dao hai lưỡi, có khả năng gây nên nhiều loại tác dụng phụ khác nhau. 

Một trong những tác dụng mặt trái của thuốc là gây run tay chân.


Trong đó, thuốc có thể là nguyên nhân trực tiếp gây run hoặc là yếu tố thúc đẩy tình trạng run đã tiềm tàng.

Vì sao uống thuốc lại run?
Chứng run do thuốc là một rối loạn vận động không chủ ý xảy ra khi người bệnh sử dụng một số loại thuốc khiến việc di chuyển, điều khiển cánh tay, bàn tay, chân trở nên khó khăn, thậm chí ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.
Các triệu chứng run có thể xuất hiện ở bàn tay, cánh tay, đầu, hoặc trên mí mắt, chân bị ảnh hưởng ít hơn. Trong hầu hết các trường hợp, run do thuốc thường đối xứng, xảy ra chủ yếu ở người lớn tuổi, người có suy giảm chức năng gan thận hoặc các bệnh lý thực thể ở hệ thần kinh trung ương (như nhồi máu não, bệnh xơ cứng rải rác), người có tâm lý hay lo lắng hoặc người phải sử dụng đồng thời nhiều loại thuốc...

Các thuốc có thể gây run
Thuốc giãn phế quản: Các thuốc cường bêta giao cảm tác dụng nhanh như salbutamol, isoprenaline, terbutalin được ghi nhận gây run. Run do các thuốc này phụ thuộc liều và thường xảy ra sau dùng đường tiêm truyền và đường uống. Các thuốc cường bêta 2 tác dụng kéo dài như salmeterol ít có nguy cơ gây run hơn so với các thuốc trên. Theophylline và aminophylline cũng có thể khởi phát tình trạng run tiềm tàng khi được dùng đường tiêm truyền.
Các thuốc an thần: Các thuốc an thần kháng dopamin như thioridazine, fluphenazine và chlorpromazine có tỷ lệ gây run cho người sử dụng khá cao, có thể run khi vận động hoặc cả lúc nghỉ, phụ thuộc vào thuốc và liều dùng. Các thuốc an thần không điển hình như risperidone, olanzapine, quetiapine và ziprasidone ít gây run hơn các thuốc trên, thường chỉ ở liều cao.
Nội tiết tố: Run là một biểu hiện thường gặp khi dùng quá liều levothyroxine và cũng là một trong những tác dụng phụ rất hay gặp của adrenalin (hormon của tuỷ thượng thận) và medroxyprogesterone acetate.
Thuốc chống trầm cảm: Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng như amitriptyline có thể gây biểu hiện run khi vận động ở một số bệnh nhân, triệu chứng này thường giảm dần trong quá trình điều trị. Run cũng là một tác dụng phụ thường gặp nhất của các thuốc ức chế chọn lọc serotonin như fluoxetine… Run cũng có thể xảy ra khi ngưng dùng đột ngột các thuốc này (hội chứng cai thuốc).
Thuốc chống loạn nhịp tim: Amiodarone có thể gây run ở khoảng 1/3 số người dùng thuốc, cơ chế hiện còn chưa được biết rõ. Run do amiodarone thường phụ thuộc vào tư thế và tăng lên khi tập trung làm việc. Procainamide và mexiletine cũng được ghi nhận có liên quan với biểu hiện run, trong đó, mexiletine có thể gây run, chóng mặt và giảm trí nhớ ở khoảng 10% số người dùng thuốc. Run do procainamide tương đối hiếm gặp.
Thuốc kháng khuẩn, diệt virut: Một số thuốc diệt virut như vidarabine, aciclovir cũng được ghi nhận gây ra biểu hiện run ở một số bệnh nhân dùng thuốc, thường xuất hiện sau điều trị 5-7 ngày và giảm dần sau khi ngưng thuốc vài ngày. Kháng sinh co-trimoxazole có thể gây ra biểu hiện run cả lúc nghỉ ngơi và khi vận động.
Thuốc chống động kinh: Mặc dù các thuốc chống động kinh có thể được sử dụng trong điều trị một số thể run tiên phát nhưng đa số các thuốc này lại cũng có khả năng gây run. Valproic acid có thể gây run ở khoảng 80% số người dùng thuốc.
Run do valproic acid thường liên quan đến vận động và thay đổi tư thế, có thể run ở cả đầu và thân mình, liên quan với liều dùng và thường giảm dần trong vòng vài tuần sau khi giảm liều hoặc ngưng thuốc. Một số thuốc chống động kinh khác như tiagabine, gabapentin, lamotrigine và oxcarbazepine cũng được ghi nhận gây run ở gần 20% số người dùng thuốc.

Cần làm gì khi bị run do thuốc?
Khi hiện tượng run xuất hiện cùng với thời điểm dùng thuốc thì cũng có thể nghĩ đến nguyên nhân gây run là do thuốc điều trị. Nếu gặp trường hợp này, hãy trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc đang dùng, đặc biệt là những thuốc có chứa chất kích thích hoặc theophylline. Ngoài ra, nếu bạn bị run, cần tránh sử dụng các loại chất kích thích như cafein và các đồ uống chứa caffein như cà phê, trà, soda vì có thể làm cho biểu hiện run tăng nặng hơn.
Run do thuốc thường sẽ giảm và hết khi ngừng sử dụng thuốc. Tuy nhiên, nếu run kéo dài hoặc không dừng lại khi ngừng thuốc thì cần kiểm tra để loại trừ các lý do khác gây run như: bệnh Parkinson, rối loạn thần kinh thực vật, bệnh cường giáp...

Kết luận: Nếu bạn trị theo phương pháp thuốc tây thì những di chứng để lại không phải chỉ run tay mà còn rất nhiều hệ lụy khác như hại gan, hại thận,hại tim,hại bao tử và tích tụ độc chất vào người. Sức khỏe của bạn sẽ không được tăng lên khi hết bệnh mà thường giảm đáng kể. Chúng tôi benhvienthongminh.com áp dụng phương pháp đông y kết hợp công nghệ hiện đại của tây y bào chế ra sản phẩm độc đáo, vừa giúp bạn khỏi bệnh vừa giúp bạn tăng cường sức khỏe, bạn sẽ nhận được kết quả hết bệnh và sức khỏe cải thiện rõ rệt. Sức khỏe là vàng với ưu thế này chúng tôi cam kết hoàn tiền nếu bạn không hết bệnh và sức khỏe không tăng trưởng sau hết bệnh.
Theo DS. Đức Thành - Sức khỏe và Đời sống

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Mặt trái nguy hiểm của thuốc giảm đau

http://www.benhvienthongminh.com

Khảo sát cho thấy tác dụng phụ của thuốc giảm đau, đặc biệt là ibuprofen gây ra cái chết cho khoảng 1.000 người mỗi năm.

Thường xuyên sử dụng thuốc giảm đau có thể gây ra biến chứng liên quan đến các bệnh gan và thận. Để sử dụng thuốc giảm đau hợp lý và tránh tác dụng phụ của thuốc, tốt nhất hay đi khám bác sĩ để biết nguyên nhân của sự đau đớn, mức độ nghiêm trọng của bệnh. Từ đó, bác sĩ sẽ kê đơn và phác đồ điều trị phù hợp với từng thể trạng.
Dưới đây là những ảnh hưởng nguy hiểm của thuốc giảm đau:
       
Ảnh minh họa
Tổn thương gan
Thuốc giảm đau, đặc biệt là paracetamol có thể có hại cho gan do chất peroxit được hình thành bởi sự chuyển hóa của paracetamol trong cơ thể. Do vậy cần chú ý đến liều lượng khi sử dụng paracetamol. Uống 8 viên (500 mg) trong một ngày có thể gây ra tổn thương gan cấp tính nghiêm trọng, đặc biệt ở những người hay uống rượu và có tiền sử bệnh gan từ trước.
Loét dạ dày
Thuốc giảm đau như ibuprofen, aspirin và naproxen gây kích ứng tổn thương cho dạ dày, thậm chí viêm loét và chảy máu dạ dày.
Trầm cảm
Thuốc giảm đau làm giảm tác dụng của thuốc trị trầm cảm. Những người bị trầm cảm nên hạn chế dùng thuốc giảm đau.
Suy thậnThuốc giảm đau như ibuprofen, naproxen có thể gây tổn thương thận và suy thận cho những người có bệnh tiểu đường và huyết áp cao, đặc biệt những người có tiền sử bệnh thận.
Sẩy thaiPhụ nữ uống thuốc giảm đau trong 20 tuần đầu của thai kỳ có nhiều nguy cơ sẩy thai. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng thuốc giảm đau gây trở ngại cho các kích thích tố quan trọng trong chuyển dạ. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất cứ loại thuốc giảm đau nào nếu bạn có kế hoạch mang thai hoặc đang mang thai.
Loãng máu
Thuốc giảm đau như aspirin, ibuprofen và naproxen có khả năng làm loãng máu. Aspirin mang lại nhiều lợi ích cho người có vấn đề về đông máu và bệnh tim. Tuy nhiên người đã và đang dùng thuốc làm loãng máu như Coumadin nên tránh tất cả các loại thuốc giảm đau vì chúng có thể gây chảy máu.
Kích ứng dạ dày
Một trong những tác dụng phụ thường gặp của thuốc giảm đau là kích thích dạ dày, nhất là uống thuốc trong khi dạ dày đang trống rỗng. Bạn có thể bị nôn và ợ nóng.

Và các sai lầm khi uống thuốc:
SKĐS - Chia sẻ đơn thuốc với người khác, tích trữ thuốc đến hết hạn, dùng nhiều thuốc cùng hoạt chất... là những sai lầm thường gặp trong sử dụng thuốc giảm đau.
Chia sẻ đơn thuốc với người khác, tích trữ thuốc đến hết hạn, dùng nhiều thuốc cùng hoạt chất... là những sai lầm thường gặp trong sử dụng thuốc giảm đau.
Chuyện kể rằng, vợ Dâu có một số thuốc percocet (thuốc tổng hợp gồm paracetamol và oxycodone) còn lại từ một lần đi khám răng, cùng lúc có một lọ tylenol (paracetamol) ở phía trên chậu rửa. Dâu lấy mỗi loại 2 viên và uống trôi cùng với một cốc bia.
Thật may mắn vì Dâu chỉ là nhân vật hư cấu cho bài viết này. Nhưng thực tế có rất nhiều Dâu trong đời thường đã mắc những sai lầm lớn với những thuốc không cần đơn (OTC - over the counter) cũng như những thuốc cần đơn.
Dưới đây là một số sai lầm khi dùng thuốc giảm đau mà các chuyên gia của Hiệp hội Dược sĩ Mỹ đã chỉ ra, những sai lầm này cũng rất thường gặp ở Việt Nam chúng ta.
Uống thuốc giảm đau cần theo chỉ định của bác sĩ, không dùng quá liều chỉ định.
Nếu 1 là tốt, 2 có lẽ tốt hơn
Một số người khi dùng liều thuốc đầu tiên để giảm đau, nhưng sau vài phút không thấy đau giảm lại tiếp tục uống thêm một liều nữa với suy nghĩ “một liều đã tốt rồi thì 2 liều có lẽ tốt hơn”. Suy nghĩ này là vô cùng nguy hiểm vì nếu bạn làm vậy, rất có thể bạn sẽ được đưa đến phòng cấp cứu. Thường khi bác sĩ kê đơn thuốc giảm đau cho bạn, họ đã phải cân nhắc về lợi ích và tác hại để đưa ra liều cho tác dụng tốt nhất với tác dụng phụ ít nhất. Việc tăng gấp đôi hoặc gấp ba liều lượng sẽ không làm tăng tác dụng điều trị mà ngược lại nó có thể làm tăng tác dụng phụ có hại.
Một trường hợp khác cũng vô cùng tai hại đó là dùng cùng lúc nhiều loại thuốc giảm đau mà bạn có như paracetamol, ibuprofen và naproxen..., điều này cũng làm gia tăng các tác dụng phụ có hại mà bạn có thể gặp phải.
Bởi vậy, nếu bạn đã uống thuốc giảm đau đúng chỉ dẫn về liều lượng mà sau một thời gian nó vẫn không kiểm soát cơn đau, bạn không được tăng liều gấp đôi hoặc dùng thêm thuốc khác, mà cần gặp bác sĩ để bác sĩ có thể thay đổi phương thức điều trị cho bạn.
Quá liều do dùng thuốc cùng hoạt chất
Nhiều người thường dùng thuốc giảm đau OTC và thậm chí cả thuốc giảm đau theo đơn mà không đọc nhãn và thành phần của thuốc. Có nghĩa là họ thường không biết được loại thuốc họ đang dùng. Điều đó không bao giờ là một ý tưởng tốt, vì có thể bạn sẽ dùng các thuốc có cùng thành phần và gây nên tình trạng quá liều.
Trong trường hợp của Dâu, anh ta lấy 2 viên thuốc giảm đau theo đơn (percocet) có chứa paracetamol cùng với một liều đầy đủ thứ hai của paracetamol từ tylenol, làm anh ta có nguy cơ bị tổn thương do quá liều paracetamol.
Uống thuốc giảm đau cùng với rượu, bia
Sai lầm này làm tăng hiệu quả của nhau. Rượu làm bạn say và một số thuốc giảm đau làm tăng cảm giác đó. Trong một số trường hợp khác, rượu làm bạn đau đầu và bạn dùng thuốc giảm đau để chữa. Nhưng bạn cần nhớ rằng, sử dụng kết hợp thuốc giảm đau và rượu sẽ làm tăng tác hại lên gan, vì bản thân rượu và thuốc giảm đau riêng rẽ đều là những thứ không tốt cho gan.
Đó là lý do tại sao nhiều loại thuốc được gán nhãn “no alcohol” (không dùng đồ uống có cồn). Nhãn này được ký hiệu bởi một cái ly rượu, xung quanh là ký hiệu “không” mang tính quốc tế với vòng tròn và dấu gạch chéo. Ký hiệu này được áp dụng cho cả rượu và bia.
Tương tác thuốc
Trước khi dùng bất cứ loại thuốc giảm đau nào, bạn hãy nghĩ xem mình có đang dùng một loại thuốc, thảo dược hay thực phẩm chức năng nào khác hay không. Một vài loại thuốc và thực phẩm chức năng này có thể tương tác với thuốc giảm đau hoặc làm tăng nguy cơ tác dụng phụ.
Ví dụ, aspirin có thể ảnh hưởng đến tác dụng của một số loại thuốc tiểu đường non-insulin; codeine và oxycodone có thể làm giảm tác dụng của thuốc chống trầm cảm.
Uống thuốc khi lái xe
Thuốc giảm đau có thể làm cho bạn buồn ngủ và gây nguy hiểm khi lái xe. Nhưng không phải ai cũng có phản ứng giống nhau với các loại thuốc. Vì vậy các chuyên gia khuyên bạn nên thử trước loại thuốc đó ở nhà để xem nó có gây cho bạn cảm giác buồn ngủ hay không.
Chia sẻ đơn thuốc với người khác
Đây là điều rất phổ biến ở Việt Nam và thậm chí là cả ở những nước phát triển. Điều này rất nguy hiểm cho người được chia sẻ vì có thể gây ra cho họ tình trạng dị ứng, tương tác thuốc hoặc quá liều.
Không trao đổi với dược sĩ
Các quảng cáo giới thiệu thuốc đều khuyến cáo “Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”, nhưng quả thật không phải dễ dàng để đọc và hiểu được các hướng dẫn đó. Bởi vậy, bạn nên đề nghị với dược sĩ hoặc người bán thuốc hướng dẫn bạn cặn kẽ cách dùng thuốc và các nguy cơ ngay tại cửa hàng.

Tích trữ thuốc hết hạn
Vợ Dâu thực sự đã có lỗi trong sai lầm của anh ấy. Đáng lẽ cô ấy nên vứt bỏ những viên thuốc giảm đau này từ khi cố ấy hết đau răng. Lý do là thuốc được lưu trữ ở nhà bắt đầu phân hủy ngay sau khi hết hạn, đặc biệt đúng với các thuốc giữ trong môi trường ẩm ướt của tủ thuốc phòng tắm. Dùng thuốc quá hạn sẽ không còn tác dụng chữa bệnh, thậm chí bạn còn có thể bị ngộ độc do các sản phẩm phân hủy của thuốc.
Bẻ viên thuốc không được bẻ
Viên thuốc thực sự là những cái máy nhỏ để vận chuyển thuốc. Chúng sẽ không còn hữu dụng khi chúng bị bẻ ra theo cách không được phép. Cần lưu ý, chỉ những viên thuốc có khía rãnh mới được phép bẻ ra, còn tất cả các thuốc không có rãnh đều không được bẻ.

Vậy bây giờ phải làm sao:
Bạn có vấn đề gì về sức khỏe tốt nhất liên hệ benhvienthongminh.com để tư vấn và hướng dẫn cặn kẽ. Bởi lẽ mỗi người có cơ địa khác nhau. Không nói chính xác được, phải tủy theo bệnh và cơ thể mà hướng dẫn bệnh nhân có sức khỏe tuyệt vời theo các cách khác nhau. Không rập khuôn cứng nhắc được. Người già áp dụng khác, người trẻ áp dụng khác, người mang thai áp dụng khác.

BS. Mai Trung Dũng