Hiển thị các bài đăng có nhãn thực phẩm chống lại gốc tự do. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thực phẩm chống lại gốc tự do. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Tác hại của gốc tự do và phương pháp trẻ hóa tế bào

http://www.benhvienthongminh.com

Gốc tự do là một thuật ngữ từ lâu đã quen thuộc với giới y khoa, nhưng vẫn còn rất mới mẻ đối với cộng đồng. Phần lớn hiện vẫn chưa lường hết được sự nguy hiểm của gốc tự do đối với sức khỏe, đặc biệt là với bộ não – cơ quan quan trọng nhất của cơ thể.
I. Gốc tự do – những kẻ phá hoại tế bào
Gốc tự do (free radical) là những nguyên tử hay phân tử bị mất đi một điện tử ở lớp vỏ ngoài cùng. Chúng sinh ra liên tục trong quá trình chuyển hóa của cơ thể hoặc hình thành dưới tác động của các yếu tố bên ngoài như ô nhiễm môi trường,stress, rượu bia, thuốc lá…
Để phòng và chữa bệnh bạn không thể quên đến công việc đào thải các gốc tự do và tạo màng lưới ngăn chặn gốc tự do xâm nhập

Do bị mất điện tử nên gốc tự do rất không ổn định và luôn có xu hướng chiếm đoạt điện tử từ các cấu trúc lân cận, tạo ra hàng loạt gốc tự do mới. Quá trình này diễn ra theo phản ứng dây chuyền, gây tổn thương màng tế bào, các phân tử protein và ngay cả ADN... Hậu quả là xuất hiện những biến đổi làm tổn hại, rối loạn chức năng, thậm chí gây chết tế bào.
Người ta không thể nhìn thấy những thương tổn do quá trình oxy hóa đang xảy ra trong cơ thể. Nhưng, quá trình ấy có thể được minh họa một cách sinh động qua những hình ảnh tương tự: sự han rỉ của kim loại hay hiện tượng biến màu nhanh chóng của vết cắt quả táo. Để bảo vệ các vật dụng khỏi bị han rỉ, mục nát, người ta thường sơn hoặc bao bọc chúng bởi các vật liệu chống lại sự oxy hóa. Còn để bảo vệ các bộ phận trong cơ thể chống lại các tác nhân oxy hóa (chống gỉ), ta phải làm gì?
Chính vì nguy hại như vậy, gốc tự do được xem là “sát thủ giấu mặt” gây ra quá trình lão hóa và phần lớn các bệnh tật. Y học hiện đại đã thống kê, sự tấn công của gốc tự do gây ra hơn 60 loại bệnh khác nhau, trong đó đặc biệt nguy hiểm là các bệnh ảnh hưởng đến não bộ như suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, Alzheimer, tai biến mạch máu não…
Mỗi ngày một tế bào phải hứng chịu 10.000 đợt tấn công của các gốc tự do. Và trong suốt 70 năm cuộc đời, chúng ta sẽ phải liên tục chống chọi với 17 tấn gốc tự do
II. GỐC TỰ DO GÂY NÊN NHIỀU BỆNH CHO CƠ THỂ
1.Não: Thoái hoá thần kinh, đau nửa đầu, đột quỵ, ung thư não
2.Mắt: Thoái hoá võng mạc, thoái hoá điểm vàng, đục thủy tinh thể
3.Da: Lão hoá da, vẩy nến, viêm da
4.Hệ miễn dịch: Viêm nhiễm mãn tính, các rối loạn tự miễn, bệnh lupus, viêm đường ruột
5.Tim: Suy tim, xơ hoá cơ tim, cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim
6.Mạch máu: Tái hẹp lòng mạch, xơ vữa mạch máu, rối loạn chức năng tế bào nội mô, cao huyết áp
7.Phổi: Hen phế quản, phổi tắc nghẽn mãn tính, dị ứng, ung thư phổi
8.Thận: Bệnh thận mãn tính, thải ghép thận, viêm cầu thận
9.Đa cơquan: Tiểu đường, lão hoá, mệt mỏi mạn tính...
10.Khớp: Thấp khớp, thoái hoá khớp, viêm khớp vẩy nến.

Bản thân cơ thể có một hệ bảo vệ chống oxy hóa, nhưng khi các tác nhân gây oxy hóa xuất hiện quá nhiều thì hệ thống này không đảm đương nổi trọn vẹn “thiên chức”, mà cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. Một chế độ ăn uống tốt, bổ sung các chất dinh dưỡng đúng và đều đặn sẽ đóng góp vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại các tác nhân oxy hóa có hại - nguyên nhân gây ra nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm. 

III. Hiểu đúng về gốc tự do:
Sức khỏe và tuổi thọ của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Môi trường ô nhiễm, nếp sinh hoạt thiếu điều độ, trạng thái tinh thần bất ổn, nghiện rượu, thuốc lá, bệnh tật…, tất cả đều có ảnh hưởng xấu đến tuổi thọ và sức khỏe. Nhưng ngay cả với những người sống trong môi trường “siêu sạch”, tinh thần luôn vui vẻ, dinh dưỡng tối ưu, nếp sinh hoạt điều độ…, tức là tất cả đều “trên cả tuyệt vời”, thì ở họ, sự lão hóa vẫn xảy ra, dù có thể chậm hơn. 
Các khoa học gia ví chúng như những tên sở khanh chuyên đi ve vãn, phá hoại hạnh phúc của các cuộc hôn nhân đang êm đẹp. Trong  cuộc đời của một người sống  tới 70 tuổi, thì có chừng 17 tấn gốc tự do được tạo ra như vậy.     

Năm 1954, bác sĩ Denham Harman thuộc Đại học Berkeley, California, là khoa học gia đầu tiên nhận ra sự hiện hữu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương cho tế bào.Trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở ngoài cơ thể.
Gốc tự do có tác dụng không tốt cho cơ thể liên tục ngay từ lúc con người mới sanh ra và mỗi tế bào chịu sự tấn công của cả chục ngàn gốc tự do mỗi ngày. Ở tuổi  trung niên, cơ thể mạnh, trấn áp được chúng, nhưng tới tuổi cao, sức yếu, gốc tự do lấn át, gây thiệt hại nhiều gấp mười lần ở người trẻ. Nếu không bị kiểm soát, kiềm chế, gốc tự do gây ra các bệnh thoái hóa như ung thư, xơ cứng động mạch, làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng, làm giảm trí tuệ, teo cơ quan bộ phận người cao niên.

Nó phá rách màng tế bào khiến chất dinh dường thất thoát, tế bào không tăng trưởng, tu bổ, rồi chết. Nó tạo ra chất lipofuscin tích tụ dưới da khiến ta có những vết đồi mồi trên mặt, trên mu bàn tay. Nó tiêu hủy hoặc ngăn cản sự tổng hợp các phân tử chất đạm, đường bột, mỡ, enzyme trong tế bào. Nó gây đột biến ở gene, ở nhiễm thể, ở DNA, RNA. Nó làm chất  collagen, elastin mất đàn tính, dẻo dai khiến da nhăn nheo, cơ khớp cứng nhắc.
Theo các nhà nghiên cứu, gốc tự do hủy hoại tế bào theo diễn tiến sau đây: Trước hết, gốc tự do oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại trong việc thải chất bã và tiếp nhận thực phẩm, dưỡng khí; rồi gốc tự do tấn công các ty lập thể, phá vỡ nguồn cung cấp năng lượng. Sau cùng, bằng cách oxy hóa, gốc tự do làm suy yếu kích thích tố, enzym khiến cơ thể không tăng trưởng được.
Trong tiến trình hóa già, gốc tự do cũng dự phần và có thể là nguy cơ gây tử vong. Hóa già được coi như một tích tụ những đổi thay trong mô và tế bào. Theo bác sĩ Denham Harman, các gốc tự do là một trong nhiều nguyên nhân gây ra sự hoá già  và sự chết cuả các sinh vật. Ông ta cho là gốc tự do phản ứng lên ty lạp thể, gây tổn thương các phân tử bằng cách làm thay đổi hình dạng, cấu trúc,  khiến chúng trở nên bất khiển dụng, mất khả năng sản xuất  năng lượng.
Do quan sát, người ta thấy gốc tự do có ít ở các sinh vật chết non, có nhiều hơn ở sinh vật sống lâu. Người cao tuổi có nhiều gốc tự hơn là khi người đó còn trẻ. 

Gốc tự do thường xảy ra trong quá trình chuyển hóa. Đôi khi chính hệ miễn dịch của cơ thể cũng tạo ra gốc tự do để tiêu diệt virus và vi khuẩn. Tuy nhiên, gốc tự do gây lo ngại nhất là những gốc tự do được hình thành do sự ô nhiễm môi trường, phóng xạ, khói thuốc, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ...
Gốc tự do sẽ làm ngòi nổ cho vô số bệnh tật. Nói theo màu sắc hóa học thì một vật chất bị ôxy hóa khi chúng mất điện tử và một chất bị khử khi chúng được cho thêm điện tử. Tất cả những phản ứng hóa học xảy ra đều có sự trao đổi điện tử. Cơ thể chúng ta tạo ra năng lượng nhờ vào sự ôxy hóa thực phẩm và dự trữ năng lượng dưới dạng ATP. Thật là nghịch lý, cơ chế tạo năng lượng  này vốn rất quan trọng cho sự sống lại có thể hình thành những gốc tự do gây tổn hại tế bào do sự hình thành những vụ “chôm chỉa” điện tử liên hoàn.

IV. Vậy, nguyên nhân của sự lão hóa là gì?

Trong những năm gần đây, có nhiều giả thuyết về cơ chế của sự giảm sút sức khỏe và lão hóa, trong đó, có nhiều tài liệu chứng minh lão hóa là do ảnh hưởng xấu của gốc tự do. Khoảng 95% lượng gốc tự do sinh ra trong hô hấp tế bào sinh năng lượng cho cơ thể. Tại đây, sẵn có hầu hết các enzym chống oxy hóa cùng một số chất chống oxy – hóa không enzym khác (glutathion, coenzym Q10…), nên 95% phần gốc tự do này không gây những hậu quả đáng kể. Nhưng khi tuổi càng cao, thân càng tàn thì người ta không còn đủ khả năng để “quét dọn” hết chỗ 95% gốc tự do này. 
Ngoài ra, 5% gốc tự do còn lại được sản sinh do các hoạt động sinh lý khác (như thực bào), hoặc bệnh lý (như viêm, ung thư, nhiễm khuẩn, các bệnh chuyển hóa,…) hoặc do nhiều yếu tố ngoại lai (chất gây ô nhiễm môi trường, khói thuốc lá, rượu, thuốc, chất diệt côn trùng, diệt cỏ, tia phóng xạ, tia tử ngoại v.v…) Những loại gốc tự do này xuất hiện ở mọi nơi: trong tế bào, ở màng tế bào, dịch ngoại bào, tức là ở những chỗ không có sẵn các enzym chống oxy hóa, nên tác hại gây ra nghiêm trọng và phức tạp hơn nhiều. Ở những nơi này, hoạt tính chống oxy hóa phụ thuộc vào các chất chống oxy hóa từ bên ngoài mang vào cơ thể. 

Gốc tự do là một chất hóa học (phân tử, nguyên tử hoặc ion) có chứa một điện tử độc thân (chưa nhập đôi). Những gốc này chỉ tồn tại trong khoảnh khắc, sau đó được “kết bạn” ngay với một điện tử tự do hoặc với cũng một gốc tự do nào đó. Do chứa điện tử độc thân nên gốc tự do có phản ứng rất mạnh. Oxy (O2) mà ta hít thở suốt đời là phân tử chứa hai điện tử độc thân rất vững. Khi tóm bắt được một điện tử độc thân nào đó trong cơ thể hoặc một gốc tự do còn đang bơ vơ, thì một trong hai điện tử tự do trên kia của oxy sẽ “kết bạn” ngay, khi đó oxy tích điện âm (anion).

O2 là một superoxyd. Năng lượng tạo superoxyd do enzyme mang lại. Anion O2 là yếu tố oxy hóa đặc biệt có hại, tham gia vào nhiều phản ứng hủy những phân tử của cơ thể. Sự tạo nên những gốc tự do có phản ứng mãnh liệt như O2, OH có thể phá hủy nhanh và không phục hồi những thành phần và cấu trúc tế bào. Các chất này là các “dạng oxy hoạt động” có độc tính cao, đều gây ra những phản ứng dây chuyền gốc tự do mà hậu quả rất nguy hiểm là làm tổn hại đến cấu trúc và chức năng của tế bào, sản sinh hàng loạt những gốc tự do thứ cấp, rất đa dạng và không kém phần độc hại, khiến cho cơ thể hóa già, xuất hiện hàng loạt những bệnh lý rắc rối như bệnh tim mạch, ung thư, giảm trí nhớ, mất trí, suy giảm thị giác… 
V. Vì sao não dễ bị gốc tự do tấn công?
Gốc tự do tấn công vào tất cả các cấu trúc tế bào trong cơ thể, nhưng não bộ là nơi phải chịu đựng nhiều tổn hại nhất. 
Não chỉ chiếm khoảng 2% trọng lượng cơ thể nhưng lại tiêu thụ đến 20%–25% nhu cầu oxy và năng lượng của toàn cơ thể. Bên cạnh đó, não còn là cơ quan béo nhất với hơn 60% thành phần là các axit béo chưa bão hòa rất dễ bị oxy hóa. Chính vì vậy, quá trình chuyển hóa các chất tại não diễn ra rất mạnh mẽ, làm sản sinh ra nhiều gốc tự do.
Tuy là nơi “tập kết” nhiều gốc tự do nhưng hệ thống chống gốc tự do tại não lại kém hơn nhiều so với các cơ quan khác, ví dụ chỉ bằng 1/10 so với gan. Do vậy, não rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương bởi sự tấn công của gốc tự do, gây ra hai nhóm bệnh thường gặp là thoái hóa tế bào thần kinh và bệnh lý mạch máu não.
Với nhóm bệnh thoái hóa tế bào thần kinh, gốc tự do làm tổn thương cấu trúc, thậm chí gây chết tế bào não làm suy giảm chức năng não bộ. Tùy vùng não bị ảnh hưởng mà các triệu chứng có thể xuất hiện khác nhau như: suy giảm trí nhớ, khả năng học tập – tư duy kém, giảm tập trung trong công việc… Nếu diễn tiến lâu dài sẽ dẫn đến sa sút trí tuệ, bệnh Alzheimer, Parkinson…
Với nhóm bệnh mạch máu não, gốc tự do gây tổn thương thành mạch, thúc đẩy sự hình thành các mảng xơ vữa và tạo huyết khối. Lòng mạch bị hẹp lại khiến lưu lượng máu đến nhu mô não bị giảm, gây ra các vấn đề về tuần hoàn não như cơn thiếu máu não thoáng qua, tai biến mạch máu não, đau nửa đầu…
VI. Chống gốc tự do bằng cách nào?
Theo thời gian, gốc tự do không ngừng sản sinh và gây hại trong khi hệ thống phòng vệ của cơ thể lại từng bước suy yếu dần. Do đó, để bảo vệ sức khỏe - đặc biệt là bộ não, cần hạn chế các yếu tố tăng sinh gốc tự do, và bổ sung các chất chống gốc tự do cho cơ thể.
Giảm yếu tố tăng sinh gốc tự do: Gốc tự do không chỉ sinh ra từ các quá trình chuyển hóa trong cơ thể mà còn hình thành dưới tác động của các yếu tố bên ngoài như: môi trường ô nhiễm (khói bụi, ánh nắng, phóng xạ…), rượu bia, khói thuốc lá, hóa chất, chấn thương, nhiễm khuẩn, căng thẳng thần kinh - stress… Vì thế, cần hạn chế tối đa tác động của các yếu tố này.

Bên cạnh đó, chế độ ăn cần tránh những thực phẩm có thể làm tăng sinh gốc tự do như mỡ động vật, thực phẩm đóng hộp… Thường xuyên tập thể dục và giữ tinh thần phấn chấn, thoải mái cũng giúp hạn chế gốc tự do.
VII. Thực phẩm chống ôxy hóa:
Trong một hội nghị quốc tế về chống các gốc tự do, các bác sĩ khuyên nên có chế độ ăn giàu acid béo đơn không no, bổ sung các chất chống ôxy hóa như vitamin E, bêta caroten, vitamin C, selenium. Những chất này có trong các loại thực phẩm sau:
- Thực phẩm giàu vitamin E: Các loại dầu thực vật như dầu đậu nành, đậu phộng, hướng dương, gan cá; giá đỗ, hành tây.
- Thực phẩm giàu bêta caroten: Đu đủ, cà rốt, bí đỏ, xoài. Các loại rau có màu xanh thẫm như rau ngót, rau dền, rau muống, rau đay, mồng tơi.
- Những thực phẩm giàu vitamin C: Tất cả các loại rau, quả, nhiều nhất là rau ngót, cà chua, rau thơm. Các loại quả như bưởi, chanh, cam, quýt, chuối.
- Thực phẩm giàu selenium: Tỏi, tôm đồng, gạo, bắp vàng, lòng đỏ trứng, thịt heo nạc.
  

Bổ sung chất chống gốc tự do từ thiên nhiên: Ngoài việc hạn chế những yếu tố có hại từ bên ngoài, một chế độ dinh dưỡng giàu các chất chống gốc tự do có thể giúp cơ thể tăng khả năng phòng vệ và trung hòa gốc tự do một cách hữu hiệu.
Làm tăng hoạt tính chống oxy hóa chính là bảo vệ sức khỏe và phòng bệnh tích cực! Các nghiên cứu mới trong những năm gần đây cho thấy các chất chống oxy hóa tạo thành “một mạng lưới 5 chất cơ bản nhất” gồm: acid alpha lipoic, glutathion, coenzym Q10, vitamin E, vitamin C. Năm chất này có tác dụng hợp lực với nhau, tạo ra “mạng lưới chống oxy – hóa”. Do trung hòa được gốc tự do, nên các chất chống oxy hóa này ngăn chặn sự phát sinh nhiều trạng thái bệnh lý có căn nguyên là gốc tự do, ngăn chặn cơ thể lão hóa. Bổ sung một trong năm chất đó, tức làm tăng hoạt tính của 4 chất kia. Ba chất đầu được tổng hợp trong cơ thể nhưng giảm khi tuổi càng cao. Cơ thể không tổng hợp được các vitamin E và C mà phải bổ sung qua thức ăn và đặc biệt là thực phẩm chức năng.
Trong khẩu phần ăn hằng ngày, nên tăng cường các thảo dược, trái cây và rau của quả vì đây là nguồn cung cấp dồi dào các chất chống gốc tự do.

Gần đây, các nhà khoa học Mỹ, Nga đã chiết xuất thành công chất chống gốc tự do từ thiên nhiên, nổi bật như Anthocyanin, Pterostilbene có trong Blueberry sinh trưởng ở Bắc Mỹ. Anthocyanin, Pterostilbene có khả năng tiêu diệt gốc tự do mạnh mẽ, hạn chế sự tổn thương thành mạch, cải thiện lưu lượng máu lên não, giảm thiểu các triệu chứng của bệnh lý mạch máu não, cải thiện tình trạng đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, mất thăng bằng, mất ngủ, ù tai, rối loạn cảm giác, yếu liệt nửa

Các gốc tự do từng giây phá hoại cơ thể. Chúng là những chất thải “đáng nguyền rủa” của bộ máy sinh học ưa khí đang hoạt động. Ngoài việc cần tránh những tác động xấu làm tăng gốc tự do (như ăn uống quá thừa calo, nghiện rượu, nghiện thuốc, ô nhiễm môi trường, bệnh nhiễm khuẩn, tính khí thất thường, ăn chơi phung phí sức lực…), cũng nên bổ sung đều đặn thực phẩm và thực phẩm chức năng để sống khỏe hơn, trẻ hơn, thọ hơn.người... Đồng thời, các chất chống gốc tự do này giúp bảo vệ và tăng cường hoạt động tế bào thần kinh, cải thiện trí nhớ, tăng khả năng tập trung, chống căng thẳng/ stress...





VIII. GIẢI PHÁP TỐT NHẤT DÀNH CHO BẠN:

Mọi chi tiết và các sản phẩm tốt nhất để giúp bạn chống lại gốc tự do để phòng bệnh và đào thải các gốc tự do ra khỏi cơ thể. Bạn vui lòng liên hệ với bệnh viện thông minh. com để có giải pháp tốt nhất để bảo vệ cơ thể, giúp bạn cải lão hoàn đồng, biến già thành trẻ, biến bệnh thành khỏe. Mọi ước mơ bạn chưa thực hiện kịp thì hãy sống lâu hơn để thực hiện nó.

Mọi vấn đề đều được giải quyết, mọi câu hỏi đều có câu trả lời. Không gì là không thể, quan trọng là bạn có muốn hay không mà thôi. Ngoài ra có giải pháp miễn phí phù hợp dành cho bạn. Đừng do dự và lãng phí thời gian của mình.

Bs. Võ Hữu Lập

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Chống lại gốc tự do để trẻ hoá và sống lâu

A.                     Tìm hiểu về các chất chống oxy hoá-antioxidants

Những điều cơ bản về các chất chống oxy hóa.Chất chống Oxy hóa (COH) thực chất là gì? Thế nào là các gốc tự do? Và chúng ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe của bạn?

Nói chung, COH thực sự có lợi cho sức khỏe, trong khi các gốc tự do thì ngược lại. Mặc dù các COH có nhiều trong trái cây và rau xanh, nhưng nhiều người vẫn bị thiếu do nguồn thực phẩm không cấp đủ. Do vậy, các chế phẩm dinh dưỡng chứa các COH dưới dạng thuốc hoặc thực phẩm trở nên rất cần thiết.

Nhiều chuyên gia khuyên rằng chất chống oxi hóa phải hợp nhất với chế độ ăn và các phương pháp chăm sóc cơ thể, đặc biệt là làn da hàng ngày. Chất chống oxi hóa được cho là đem lại lợi ích lớn lao cho cơ thể không thể chối cãi được,bằng khả năng "siêu việt" chống lại các gốc tự do có hại
B.                     Tìm hiểu về gốc tự do
Các gốc tự do được tạo ra bởi sự tương tác của một số phân tử nhất định với oxi trong một quá trình được biết đến với tên gọi là oxi hóa quá trình dị hóa. Gốc tự do là những nguyên tử không ổn định có thể phá hủy các tế bào khác bằng cách lấy đi các điện tử ổn định của tế bào. Các tế bào bị hủy hoại lại trở thành những chất oxi hóa, dẫn đến một chuỗi phản ứng hóa học phá hủy. Hãy tưởng tượng rằng một quả táo khi bị bổ đôi thì bề mặt cắt dần dần chuyển sang màu nâu. Chuỗi phản ứng phá hủy do gốc tự do gây ra cũng tương tự như vậy.
Tuy nhiên, các gốc tự do xuất hiện một cách tự nhiên bởi chúng là một phần của cơ chế phòng vệ của cơ thể. Nếu ta bị tấn công bởi vi khuẩn hay vi-rút, cơ thể sẽ sản sinh gốc tự do để tiêu diệt chúng. Cơ thể sau đó sẽ tổng hợp các chất chống oxi hóa để trung hòa gốc tự do một khi các phần tử ngoại lai đã bị tiêu diệt.
Tuy nhiên, sự sản xuất gốc tự do đôi khi lại vượt quá tầm kiểm soát, bởi rất nhiều lý do. Ô nhiễm, khói, đồ ăn chế biến sẵn, stress, và thậm chí là tia UV từ mặt trời có thể khiến tăng sản lượng gốc tự do dẫn đến tình trạng stress oxi hóa. Đây là nguyên nhân quan trọng mà chất chống oxi hóa được tạo ra.
C.                     Chất chống oxi hóa với gốc tự do
Chất chống oxi hóa hoạt động bằng cách dừng chuỗi phản ứng phá hủy do gốc tự do gây ra nhờ vậy chống lại ảnh hưởng của quá trình oxi hóa, bởi vậy được gọi là “chống” oxi hóa. Chúng tương tác và trung hòa các gốc tự do một cách rất an toàn trước khi các gốc tự do phá hủy tế bào. Điểm hoàn hảo nhất của chất chống oxi hóa là đã thành công trong việc thu gom và trả lại các điện tử bị mất cho các gốc tự do mà bản thân chúng lại không bị chuyển thành các gốc tự do. Thông thường cơ thể sẽ có sự cân bằng giữa lượng chất chống oxi hóa với các gốc tự do, đảm bảo cho cơ thể hoạt động ổn định.
Vấn đề đáng quan tâm nhất là do tác động của rất nhiều tác nhân bên ngoài gây ra sự gia tăng một lượng lớn gốc tự do, trong khi cơ thể không sản xuất đủ lượng các chất chống oxi hóa tương ứng. Sự mất cân bằng xảy ra khi gốc tự do nhiều hơn chất chống oxi hóa, đẩy cơ thể đến tình trạng stress oxi hóa. Stress oxi hóa kéo dài có thể thúc đẩy quá trình lão hóa diễn ra nhanh hơn, cơ thể mắc nhiều bệnh hơn, thậm chí là ung thư.
Khi đó, cơ thể bạn cần được bổ sung các chất chống oxi hóa để tạo lập lại cân bằng giữa chất chống oxi hóa và các gốc tự do. Cách bổ sung tốt nhất, hiệu quả nhất chính là thông qua chế độ ăn của bạn.
D.                     Chuyện gì xảy ra nếu để mặc gốc tự do?
Hãy giả thiết cơ thể không sản xuất được hoặc chỉ có 1 lượng rất nhỏ chất chống oxi hóa, khi đó các gốc tự do sẽ xâm chiếm và lần lượt hủy hoại mọi tế bào trong cơ thể.
Tim mạch là một trong những cơ quan đầu tiên chịu tác hại của stress oxi hóa kéo dài. Vitamin E, chất chống oxi hóa tan trong dầu, chống lại LDL (cholesterol xấu) vô cùng tốt. Nó ngăn chặn hình thành các mảng xơ vữa ở động mạch và điều hòa huyết áp bởi vậy ngăn ngừa được bệnh tim mạch.
Stress oxi hóa có thể dẫn đến viêm khớp, bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer, và nhiều loại ung thư.
Gốc tự do có thể đẩy nhanh tốc độ lão hóa, điều mà có thể quan sát rõ ở da mặt. Nếp nhăn, vết chân chim và đồi mồi có thể xuất hiện ở tuổi 20 bởi các gốc tự do được tạo thành và tiếp xúc với tia UV độc hại từ mặt trời. Đó là lý do tại sao kem bôi vitamin E lại phổ biến. Vitamin E có thể chống lại sự hủy hoại của tia UV nhưng nó không đóng vai trò giống như kem chống nắng.

E.                      Những chất chống oxi hóa nào có thể bổ sung trong chế độ ăn?
Các nguồn và loại chất chống oxi hóa rất đa dạng nhưng các chất chống oxi hóa chính có thể bổ sung trong thực đơn bao gồm:
·   Vitamin C: đây là chất chống oxi hóa tan trong nước có thể được tìm thấy trong các loại quả mọng. Nó giúp vitamin E trở lại dạng hoạt động.
·   Vitamin E: Chất chống oxi hóa tan trong dầu này là hàng phòng thủ đầu tiên với gốc tự do. Nó phối hợp rất tốt với vitamin C.
·   Flavonoids: có trong hoa quả, bao gồm rất nhiều chất có thể đóng vai trò là chất chống oxi hóa. Khi tiêu thụ một lượng vừa đủ hoa quả và rau xanh mỗi ngày, bạn có thể có đủ chất chống oxi hóa để chiến đấu với các gốc tự do tàn phá cơ thể.

 F.                      Bạn nên làm gì?
Bạn đã hiểu về cơ chế hoạt động của chất chống oxi hóa trong việc trung hòa các gốc tự do để trả lại các tế bào khỏe mạnh cho cơ thể. Có thể coi chất chống oxi hóa như Vitamin C. Vitamin E, Flavonoids là người lính bảo vệ cho cơ thể trước các tác nhân thúc đẩy quá trình lão hóa.
Bởi vậy, đừng chần chừ gì nữa, hãy cân bằng chế độ ăn của bạn, bổ sung thêm các chất chống oxi hóa, đặc biệt là vitamin E vào thực đơn càng sớm càng tốt để kiểm soát các gốc tự do.

Chất chống oxy hóa là chất dinh dưỡng có tác dụng giảm tác hại của oxy hóa (các gốc tự do) trên các tế bào cơ thể. Như chúng ta đều biết, các tế bào cơ thể cần cung cấp oxy cho sự tăng trưởng và năng lượng. Các tế bào cơ thể sử dụng oxy để tạo ra năng lượng và duy trì sự sống và phát hành các gốc tự do như một sản phẩm phụ. Chất chống oxy hóa sẽ loại bỏ các gốc tự do để ngăn ngừa bệnh tật trong cơ thể và giúp tăng tuổi thọ cho con người.

Một số chất chống oxy hóa là chất dinh dưỡng bao gồm: Vitamin A, vitamin C, vitamin D, vitamin E, beta-carotene, selen, hợp chất lycopene...

Ngoài ra còn có các chất chống oxy hóa khác như: 

Flavonoid: Các chất chống oxy hóa này đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe tâm thần khi có tuổi tác. Hoa quả và trái cây có múi như cam là một nguồn phong phú của chất flavonoid. 

Isoflavone: Chất chống oxy hóa này có tác dụng đáng kể trong việc ngăn chặn các bệnh. Nó có nhiều trong đậu nành. Isoflavone không chỉ làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư dài hạn mà còn giúp giảm bớt các triệu chứng mãn kinh và cải thiện sức khỏe của xương. 

Kẽm: Khả năng chống oxy hóa của khoáng chất này là rất cao. Các thuộc tính chống oxy hóa của kẽm có thể bảo vệ cơ thể con người khỏi sự rối loạn thần kinh. Sản phẩm từ sữa như phô mai và sữa là nguồn cung cấp kẽm rất phong phú.

Coenzyme Q10: Đây là một trong những chất chống oxy hóa được sản xuất trong cơ thể. Coenzyme Q10 là cần thiết cho hoạt động bình thường của các tế bào. Tuy nhiên , tùy theo độ tuổi, mức độ Coenzyme Q10 có thể thay đổi đáng kể. Bạn có thể bù đắp sự mất mát này bằng cách ăn thực phẩm có chứa Coenzyme Q10 như thịt cừu, cá... Chất chống oxy hóa này còn có thể thúc đẩy nướu răng khỏe mạnh và tăng cường sức khỏe của hệ thống tim mạch.

Melatonin: Đây là một trong những chất chống oxy hóa quan trọng nhất và được tổng hợp bởi cơ thể của chúng ta. Melatonin giúp duy trì giấc ngủ bình thường vì có tác dụng trong việc sản xuất melatonin. Mặc dù chất chống oxy hóa này hiện diện trong rau quả, nó là chủ yếu được tìm thấy trong cà chua. 

Chất như catechin, acid citric, acid phytic, axit oxalic, epigallocatechin gallate, ginkgo biloba, glutathione, lutein, alpha carotone và zexathin cũng có trong danh sách các chất chống oxy hóa.


Ảnh minh họa


Những nguồn tốt nhất của chất chống oxy hóa

Cà chua: Cà chua, giàu chất chống oxy hóa, giúp tăng cường chức năng miễn dịch. Màu đỏ của cà chua là do chất lycopene - một chất chống oxy hóa tạo ra. Chất chống oxy hóa trong cà chhua còn có thể đóng một vai trò quan trọng trong phòng chống ung thư tuyến tiền liệt.

Bông cải xanh: Loại rau lá xanh này rất giàu dinh dưỡng thực vật, giúp bảo vệ sức khỏe của bạn khỏi nhiều bệnh. 

Tỏi: Ngoài tác dụng tăng cường hương vị cho món ăn, tỏi là một trong những thực phẩm chứa nhiều chất chống oxy hóa và có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư.

Trà xanh: Chất chống oxy hóa được chủ yếu được tìm thấy trong trà xanh được gọi là catechin. Chất này có thể làm giảm huyết áp cao, cholesterol cao và chống lại các bệnh do vi khuẩn gây ra.

Các loại quả mọng: Các loại quả mọng , đặc biệt là quả việt quất và dâu tây, được đánh giá cao trong số những loại thực phẩm giàu chất chống oxy hóa, nhất la vitamin C. Bạn có thể thêm chúng vào bữa sáng để tăng cường sức khỏe cho mình. 

Thế nào là một chất chống oxy hóa?
Một chất COH có thể bảo vệ cơ thể tránh khỏi tác hại của một quá trình gọi là Oxy hóa. Sắt bị rỉ sét, bơ bị ôi là những ví dụ hình tượng nhất cho quá trình này. Oxy hết sức cần thiết cho sự sống nhưng lại là một chất rất không ổn định. Nó phản ứng với sắt tạo nên rỉ sét và cũng phản ứng với mỡ trong bơ tạo nên sự ôi thiu. Trong cơ thể cũng có một quá trình tương tự như vậy xảy ra. Khi bạn càng ngày càng già đi, sự oxy hóa lại càng tăng thêm – nói nôm na, nó làm làm cơ thể bạn bị han rỉ. Bất kỳ chất nào ngăn ngừa hay làm chậm sự oxy hóa đều được gọi là chất chống oxy hóa. Cơ thể bạn có thể sản xuất ra một số COH (gọi là COH nội sinh), nhưng bạn buộc phải cung cấp thêm các COH ngoại sinh từ chế độ ăn. Các COH nội sinh thường là các enzyme (enzyme catalase, glutathione peroxidase, superoxide dismutase (SOD)), coenzyme và những hợp chất chứa sulfur, như glutathione. Các COH ngoại sinh trong chế độ ăn từ thực phẩm có chứa Vitamin A và đặc biệt là có liên quan đến họ carotene, vitamin C và vitamin E, bioflavonoids, carotenoids và một số hợp chất chứa sulfur. Các khoáng chất bản thân chúng không phải là các COH nhưng nhiều chất khoáng lại là thành phần thiết yếu của các enzyme chống oxy hóa do cơ thể tạo ra. Trong số này có selenium cần thiết để tạo glutathione peroxidase; sắt cần cho catalase; và mangan, đồng, kẽm cần cho SOD. Các hợp chất của sulfur, như cysteine và methionine là các amino acid chứa sulfur, giúp cơ thể tạo ra loại COH thường gặp nhất trong tế bào, glutathione. Các coenzyme chống oxy hóa, như NADH (nicotinamide adenine dinucleotide), coenzyme Q10 , và acid alpha-lipoic do cơ thể tạo ra và cũng có được từ chế độ ăn. 

 
Gốc tự do (free radical) là gì?
Gốc tự do có thể gây hại cho sức khỏe của bạn. Rất đơn giản, gốc tự do là những kẻ xấu gây nguy hại cho bạn, trong khi các COH là những người bảo vệ hữu hiệu.
Phân tử bao gồm các nhóm nguyên tử gắn kết với nhau bởi hoạt động của các cặp electron. Đôi khi trong quá trình phản ứng hóa học, một electron bị kéo ra khỏi chỗ cố hữu của nó trong phân tử, và tạo thành một gốc tự do. Về bản chất, gốc tự do là một electron độc thân. Các gốc tự do rất không ổn định và nhạy cảm. Chúng tìm kiếm những electron khác để hình thành một cặp electron mới. Các gốc tự do gây tổn thương cho cơ thể khi chúng kéo những electron từ các tế bào bình thường.Một chất COH làm bất hoạt các gốc tự do bằng cách cho electron và một lượng nhỏ cũng có thể sử dụng lâu dài. Nói cách khác, một số ít phân tử COH phải bảo vệ nhiều, rất nhiều các phân tử khác.
Các gốc tự do gây ra những tổn thương gì?
Các gốc tự do có thể tấn công vào cơ thể vào mọi lúc! Dược sĩ Bruce Ames, Đại học California, đã ước lượng mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta phải hứng chịu khoảng 10.000 gốc tự do tấn công mỗi ngày. Trải qua 70 năm cuộc đời, cơ thể hình thành ước chừng đến 17 tấn gốc tự do. Rất nhiều trong số đó nhắm vào DNA (deoxyribonucleic acid) và các chất liệu di truỵền. Một trong những hậu quả là làm tăng tỷ lệ đột biến. Người già có tỷ lệ đột biến cao gấp 9 lần so với trẻ nhũ nhi. Chính những những đột biến này làm tăng tỷ lệ ung thư. Thêm vào đó, các gốc tự do có thể gây ra tổn thương cho tất cả các chất liệu và mô trong cơ thể như màng tế bào, protein và mỡ. Mô mỡ là nơi bị tổn thương sớm nhất và thường gặp nhất, vì đó là loại mô rất dễ bị oxy hóa. Các chuyên gia dùng thuật ngữ “sự peroxide hóa Lipid” để mô tả sự oxy hóa của mỡ trong cơ thể. Sự peroxide hóa lipid làm khởi phát một chuỗi phản ứng liên tục trên các chất mỡ và chỉ có thể bị chặn đứng bởi một chất chống oxy hóa.
Các gốc tự do còn gây tổn hại cho các acid nucleic cơ bản (adenine, thymine, guanine và cytosine), là những thành phần cơ bản cấu trúc DNA. Tổn thương này làm DNA sao mã không chính xác theo các thông tin sinh học – và tế bào ung thư được hình thành. Gốc tự do còn làm tổn thương protein, dẫn đến sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể. Ví dụ như, các protein collagen ở da, gây tổn hại da; hay các enzyme (bản chất là protein) bị tổn thương sẽ không hoạt động hiệu quả để xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Các enzyme sẽ không được sửa chữa phục hồi vì nồng độ các gốc tự do cao, vòng xoắn bệnh lý này dần dần làm cơ thể lão hóa nhanh hơn và có thể tạo ung thư. Vì vậy cơ thể bạn cần phải có các chất ống oxy hóa làm người bảo vệ và phòng thủ hữu hiệu.

Một số cơ chế chính mà các gốc tự do có thể sinh ung thư:Gây tổn thương DNA, gây đột biến phân tử, tế bào.
Kích hoạt gen sinh ung thư, còn gọi là o­ncogene.
Ức chế hệ miễn dịch cơ thể – bất hoạt hàng rào phòng thủ bảo vệ cơ thể (làm hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu dẫn đến một loạt bệnh nguy hiểm như: HIV/AIDs, viêm gan virus B, C…).
Chất chống oxy hóa được tìm thấy nhiều trong các loại trái cây và rau quả, thảo dược.
Trong lĩnh vực sức khỏe hiện nay, người ta nói đến nhiều tác hại của chất ôxy hoá, phản ứng ôxy hoá và nhấn mạnh sự cần thiết sử dụng chất chống ôxy hoá để bảo vệ, duy trì sức khỏe. Vậy chất chống ôxy hoá là gì và có ở đâu?
Chất chống oxy hóa được tìm thấy nhiều trong các loại trái cây và rau quả, thảo dược. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của chúng đối với sức khỏe trên nhiều mặt:
Gốc tự do (chất ôxy hóa) luôn luôn được sinh ra trong cơ thể con người và cũng có vai trò tích cực đối với cơ thể (có thể nói ta không thể sống được nếu trong cơ thể hoàn toàn thiếu vắng gốc tự do). Ôxy (dưỡng khí) mà ta hít thở hàng ngày là chất cần thiết nhưng chính nó cũng trở thành gốc tự do (khi đó gọi là ôxy đơn bội). Hiện tượng thực bào là hiện tượng vi khuẩn, virut bị tế bào bạch cầu tiêu diệt trong cơ thể, hoặc hiện tượng hô hấp trong tế bào, hoặc cơ chế giải độc ở gan đều là các hoạt động làm sinh ra gốc tự do.

Điều quan trọng là trong cơ thể khoẻ mạnh, gốc tự do sinh ra có giới hạn, không quá thừa để gây hại. Bởi vì bên cạnh các gốc tự do luôn có hệ thống các chất chống ôxy hoá "nội sinh" (tức có sẵn trong cơ thể) cân bằng lại, vô hiệu hoá các gốc tự do có hại. Hệ thống các chất chống ôxy này gồm các enzym như glutathione peroxidase, superroxid, dismutase... đặc biệt là vitamin C, vitamin E, beta-caroten (tiền vitamin A), khoáng chất selen "nội sinh" có sẵn trong cơ thể, xúc tác các phản ứng khử để vô hiệu hoá gốc tự do (còn gọi là "bẫy" gốc tự do) giúp cơ thể khoẻ mạnh.
Chỉ khi nào gốc tự do sinh ra quá nhiều (do ô nhiễm môi trường, do tia cực tím từ ánh nắng, do khói thuốc lá, do viêm nhiễm trong cơ thể, thậm chí do dùng một số dược phẩm...) và hệ thống chất ôxy hoá nội sinh không đủ sức cân bằng, cơ thể sẽ sinh ra rối loạn bệnh lý. Người ta đã chứng minh, khi có sự tăng quá nhiều gốc tự do sẽ gây ra tình trạng viêm nhiễm ở các cơ quan, các bệnh lý như tim mạch, bệnh thần kinh, đục thuỷ tinh thể, thoái hóa hoàng điểm ở mắt, tăng nguy cơ các bệnh ung thư và nhất là sớm xuất hiện hiện tượng lão hoá.
Các tế bào mau già đi, đến thời điểm diệt vong. Cơ quan dễ bị lão hoá nhất chính là lớp da bảo vệ cơ thể, là nơi dễ bị tác động của tia cực tím của ánh nắng, hứng chịu tác hại của ô nhiễm môi trường cộng thêm lối sống của người thường xuyên bị stress, sai lầm trong dinh dưỡng, thói quen lạm dụng độc chất (như hút thuốc, uống rượu, kể cả dược phẩm) làm da mịn màng của người phụ nữ nhất là da mặt sẽ chóng nhăn, cằn cỗi, không còn sức sống tươi mát do có sự bội tăng gốc tự do gây lão hóa.
Để chống lại sự bội tăng các gốc tự do sinh ra quá nhiều mà hệ thống "chất ôxy hoá nội sinh" không đủ sức cân bằng để vô hiệu hoá, các nhà khoa học đặt vấn đề dùng các "chất chống ôxy hóa ngoại sinh" (tức là từ bên ngoài đưa vào cơ thể) với mục đích phòng bệnh, nâng cao sức khỏe, chống lão hóa. Các chất chống ôxy hóa ngoại sinh đó đã được xác định, đó là beta-caroten, chất khoáng selen, các hợp chất flavonoid, polyphenol... Các chất ôxy hóa ngoại sinh đó thật ra không xa lạ, chúng có từ các nguồn thiên nhiên là thực phẩm như rau cải, trái cây tươi và một số loại dược thảo.

- Ngăn ngừa ung thư:
Không phải ngẫu nhiên mà trái cây và rau quả được biết đến như là một người bạn đồng hành nổi tiếng của sức khỏe! Một trong những lý do là những dưỡng chất chống oxy hóa khi được hấp thụ đầy đủ vào cơ thể sẽ làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư đến hơn 30%.
- Bảo vệ mắt:
Nhìn chung, tất cả các phân tử của chất chống oxy hóa đều có tác dụng bảo vệ đôi mắt và thị lực của bạn, cụ thể là carotenoids (lại là carotenoids!), zeaxanthin và lutein. Theo một nghiên cứu của Inserm, ăn nhiều các thực phẩm giàu zeaxanthin (có trong bắp, súp lơ...) sẽ giảm đến 93% nguy cơ bị AMD (bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác – nguyên nhân chính dẫn đến chứng mù ở người cao tuổi) và 43% bệnh đục thủy tinh thể. Tương tự, lutein (có trong lòng đỏ trứng gà, cà rốt, cam, rau bina...) sẽ giảm đến 69% nguy cơ bị AMD.
Biết được lợi ích của chất chống ôxy hóa trong việc phòng chống bệnh tật, lão hoá, ta có thể ngăn ngừa sự tăng sinh các gốc tự do có trong cơ thể một cách toàn diện bằng các cách sau.

Tóm lược những việc cần làm:
1. Góp phần chống ô nhiễm môi trường: môi trường sạch là bạn đang cứu mình và người khác, hãy sống và ăn ở sạch sẽ.
2. Dinh dưỡng đúng cách: Cung cấp các chất cần thiết cho tế bào như: đạm, đường, muối khoáng chất, vitamin,chất sơ, men, enzim....đến benhvienthongminh.com khám để biết thiếu chất gì.
3. Tránh ăn uống quá thừa năng lượng: tốt nhất ăn gạo lức muối mè. Ăn buổi sáng nhiều vì là ăn cho mình, ăn buổi trưa vừa đủ no vì ăn cho bạn bè, ăn buổi tối càng ít càng tốt vì ăn cho kẻ thù.
4. Vận động hợp lý: chạy bộ, chơi thể thao, tập Yoga, tập GYM….Mỗi ngày ít nhất 2 tiếng vận động mạnh cho ra nhiều mồ hôi.
5. Tránh nghiện rượu, thuốc lá: có giải pháp giúp bạn cai nghiện, hãy bỏ chúng vì chúng là chất độc, nên yêu chính bản thân mình, vi sinh ra làm người rất khó như rùa mù vớ phải gỗ mục giữa biển khơi.
6. Phòng các bệnh viêm nhiễm.


7. Có cuộc sống lành mạnh giúp thư thái, lạc quan, yêu đời, tránh căng thẳng(stress) nên ăn nhiều rau cải, trái cây tươi... Đây là 7 nguồn cung cấp các chất chống ôxy hóa ngoại sinh tốt nhất. Còn nguồn chống oxi hoá nội sinh sẽ tự sinh ra khi bạn hoàn thiện nguồn ngoại sinh, khi cơ thể khoẻ mạnh là nội lực chống chọi tốt nhất các ảnh hưởng.