Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm nhiễm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Viêm đa khớp,di chứng và điều trị mới nhất

http://www.benhvienthongminh..com
I.                   Nguyên nhân và triệu chứng viêm đa khớp dạng thấp
Nguyên nhân:
Khi thời tiết thay đổi đột ngột các khớp của bạn bị sưng đau, cứng, nóng đỏ..Đó là triệu chứng của bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Bệnh này thường xuất hiện ở những người bị viêm họng cấp hoặc mãn tính do chủng vi khuẩn liên cầu tan huyết nhóm A gây nên.

Triệu chứng viêm đa khớp dạng thấp
§    Đối xứng: Thường viêm ở 2 khớp đối xứng nhau như ở hai đầu gối, hai ngón tay cùng vị trí ở hai bàn tay.
§    Cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể xuống giường.
§    Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân.
§    Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bao giờ cũng có hiện tượng đau đối xứng hai bên.
§    Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bệnh đã đến giai đoạn nặng, dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.
Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp
Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp rất đa dạng, bệnh nhân có thể gặp một hoặc nhiều các triệu chứng sau:
§    Bệnh nhân gầy sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, da và niêm mạc xanh nhợt.
§    Xuất hiện hạt dưới da ở trên xương tru ( gần khớp khuỷu tay ), trên xương chày (gần khớp gối), quanh khớp cổ tay. Hạt có đường kính 5 – 15 mm nổi lên trên mặt da, chắc, không đau, không di động.
§    Ban đỏ gan bàn chân và lòng bàn tay do viêm mao mạch.
§    Teo cơ ở vùng quanh khớp tổn thương do giảm vận động.
§    Viêm gân và bao gân quanh khớp.
§    Dây chằng khớp viêm co kéo hoặc giãn gây lỏng lẻo khớp.
§    Bao khớp phình to.
§    Ngoài ra có một số biểu hiện nội tặng hiếm gặp: tràn dịch màng tim, tràn dịch màng phổi, xương mất chất vôi gãy tự nhiên, rối loạn thần kinh thực vật…
Nguyên nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
Di truyền: viêm đa khớp dạng thấp có tính gia đình, có liên quan với tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.
II.               Phòng ngừa và điều trị Viêm Đa Khớp Dạng Thấp
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh mà khi đã thành mạn tính thì khó có thể chữa khỏi. Đây là một bệnh tự miễn nghĩa là cơ thể tự sinh ra những “chất” chống lại chính khớp và gây đau
Vì là bệnh tự miễn nên việc điều trị dứt điểm thường rất khó khăn. Điều trị thường là kéo dài từ 1-2 tháng đến vài năm và có khi là điều trị suốt đời. Vấn đề chủ yếu chỉ là làm giảm các đợt vượng bệnh và kiên trì tuân thủ điều trị.
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh phổ biến ở nước ta nhất là ở nữ giới độ tuổi từ 40 trở lên. Nguyên nhân gây bệnh có thế là do yếu tố cơ địa, di truyền hoặc do các tác nhân từ môi trường. Viêm đa khớp dạng thấp là bệnh mạn tính vì vậy quá trình điều trị phải kiên trì và liên tục mới có khả năng khỏi bệnh.

1. Phương pháp vật lý và phục hồi chức năng.

a. Điều trị chống viêm giảm đau.

- Nhiệt trị liệu : Là phương pháp dùng nhiệt nóng có tác dụng tăng tuần hoàn, dinh dưỡng tại chỗ, giảm đau chống viêm. Tăng tuần hoàn giúp phân tán các chất trung gian viêm, tăng nuôi dưỡng và hồi phục nhanh tổn thương. Cần chú ý chống chỉ định nhiệt nóng trong trường hợp viêm cấp có sưng nóng, phù nề hoặc tràn dịch khớp. Các phương pháp dùng nhiệt nóng là:
§    Tắm ngâm : nước nóng toàn thân, nước muối, nước lưu huỳnh (H2S), nước phóng xạ Radon, nước khoáng thiên nhiên…
§    Đắp nóng tại khớp: paraffin, túi nhiệt, bùn nóng, cát nóng.
§    Sóng ngắn : dùng liều ấm với những khớp trung bình và lớn hoặc các khớp sâu như cổ tay, khuỷu, vai, cổ chân, gối, háng…
§    Siêu âm: điều trị tại chỗ đau có tác dụng giảm đau, chống thoái hóa do tác dụng cơ học, nhiệt và hóa học. Có thể dùng siêu âm để dẫn thuốc như: các thuốc mỡ chống viêm, chế phẩm Omega 3…
§    Hồng ngoại.
§    Tử ngoại: dùng 3-5 liều sinh lý, mỗi ngày chiếu 300-400cm2. Chiếu kín toàn bộ khớp đau và vùng lân cận, nghỉ 2-3 ngày cho phản ứng đỏ da giảm bớt rồi lại chiếu tiếp. Một đợt 5-6 lần chiếu. Tác dụng giảm đau, chống viêm, giảm mẫn cảm khớp.
§    Khí hậu trị liệu : nên sống ở vùng có khí hậu nhiệt đới.
- Điện trị liệu:
§    Dòng Galvanic đơn thuần hoặc điện di thuốc salicylat, hydrocortison vào khớp để chống viêm.
§    Điện xung: dòng hình sin, dòng TENS, dòng giao thoa.
§    Từ trường: có tác dụng giảm đau và chống thưa xương.
§    Xoa bóp: Có tác dụng giảm đau, giảm co cơ, được dùng trong một số trường hợp thoái hóa khớp, viêm dính khớp. Tốt nhất là xoa bóp bằng tay với các động tác xoa, vuốt, day.

b. Vận động phục hồi chức năng khớp.

- Trong giai đoạn viêm cấp:
Viêm khớp có sưng, đau nặng cần bất động khớp để hạn chế viêm phát triển. Tuy nhiên theo quan niệm cũ là phải nghỉ ngơi lâu dài trên giường, như thế sẽ tạo ra các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng và gây thương tật thứ phát. Do đó, cho nghỉ ngơi phải cân nhắc kỹ những điểm lợi và hại. Đối với đau khớp có thể tiến hành nghỉ ngơi như sau:
§    Khớp gối và khớp cổ chân bị đau có thể được bó cố định bằng băng thun, người bệnh có thể đi lại được do cử động khớp hông và khớp cột sống thắt lưng để bù trừ thay thế.
§    Khớp cổ tay cố định, người bệnh có thể sử dụng khớp khuỷu, vai, bàn và ngón tay.
§    Khớp hông, khớp vai là các khớp lớn có tầm vận động rộng rãi cũng phải bất động tương đối, cho vận động nhẹ nhàng các khớp gối, khuỷu, cổ chân, cổ tay, bàn chân, bàn tay.
- Khi viêm cấp lui giảm:
+ Giữ tư thế: Là biện pháp quan trọng đối với bệnh nhân viêm khớp, bao gồm các hoạt động sinh hoạt như: nằm, ngồi, đi, đứng.
§    Khi nằm : cần nằm phản cứng hoặc chỉ lót đệm mỏng, gối để thấp, lưng nằm phẳng, không nên dùng gối kê dưới khoeo chân để tránh biến dạng gấp và cứng khớp gối. Trong một ngày bệnh nhân phải nằm sấp ít nhất 2 lần, mỗi lần ít nhất 15 phút, để 2 bàn chân ra mép giường, 2 cánh tay duỗi thẳng về phía đầu.
§    Khi ngồi : nên ngồi trên mặt ghế cứng và lưng tựa thẳng, đặt 2 bàn chân sát lên mặt nền, hông và vai tựa vào thành ghế. Tránh ngồi ghế thấp quá không để khối gối vuông góc, tránh ngồi quá cao để 2 chân duỗi tự do.
§    Khi đứng : đứng dáng vươn lên và đầu thẳng, giữ thẳng khớp hông và gối, làm cho lực phân bố đều lên 2 bàn chân.
§    Khi đi : bước đi dứt khoát không để kéo lê bàn chân, không đi với 2 chân nghiêng kéo rê mặt nền, dáng đi chậm rãi nhẹ nhàng, để 2 tay đu đưa thoải mái bên thân mình, không đi với khớp hông và gối cong gập (đi khom).
+ Tập vận động: Cần tập vận động sớm, gồm vận động thụ động, vận động chủ động và vận động có dụng cụ.
§    Cần chú ý: ở giai đoạn này khớp viêm có cấu trúc yếu nên vận động mạnh dễ bị rách, đứt gân cơ, dây chằng. Đồng thời phần đầu xương gần khớp bị loãng xương nên dễ bị gẫy, đặc biệt là các khớp nhỏ như các khớp bàn ngón, khớp đốt ngón rất dễ gẫy ngay cả khi vận động chủ động.
§    Nguyên tắc tập vận động là: tập các động tác phải thận trọng, tăng từ từ. Tập nhẹ nhàng xen lẫn nghỉ ngơi, không tập gắng sức có thể làm đau thêm. Cố gắng khuyến khích người bệnh tự tập để đạt tầm vận động tối đa, tốt nhất là hết tầm vận động.
§    Phương pháp tập: mỗi ngày tập ít nhất 3-5 lần, thời gian đầu có thể chưa có khả năng vận động tới mức tối đa, nhưng mỗi ngày bệnh nhân có thể đạt được tiến bộ tăng dần.
§    Tập một số động tác để tăng sức cơ như: khi tập vận động khớp háng, khớp gối phải tập động tác tăng sưc cơ tứ đầu đùi và cơ mông lớn. Vì cơ tứ đầu đùi có chức năng duỗi khớp gối cần cho hoạt động đi, đứng, lên cầu thang, đứng dậy khỏi ghế. Cơ mông to có chức năng duỗi hông, chống lại khuynh hướng gấp và phối hợp với cơ tứ đầu đùi để lên cầu thang và đứng dậy khỏi ghế.
+ Bất động khớp:
§    Khi tình trạng khớp co rút nhiều và kéo dài thì phương pháp tập vận động chưa đủ, hoặc không đạt được hiệu quả cần thiết do cấu trúc của các thành phần khớp đã bị tổn thương rút ngắn lại. Khi đó cần dùng một nẹp máng bột để bất động khớp ở mức duỗi tối đa.
§    Sau đó người bệnh vẫn đi lại tập luyện. Một tuần sau ta thay bằng một máng bột có độ duỗi nhiều hơn. Tiếp tục làm thay đổi máng bột nhiều lần cho đến khi khớp lấy lại độ duỗi gần như bình thường để đáp ứng được chức năng của nó.

2. Điều trị ngoại khoa.

§    Bóc bỏ màng hoạt dịch.
§    Phẫu thuật chỉnh hình khi có biến dạng đứt dây chằng, trật khớp.
Viêm đa khớp dạng thấp là bệnh cần điều trị lâu dài và kiên trì, vì vậy người bệnh cần phải kiên nhẫn và tuyệt đối tuân thủ theo các hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
III.            Người mắc bệnh viêm đa khớp dạng thấp nên ăn gì?
Theo đông y bệnh viêm đa khớp dạng thấp là chứng bệnh thấp nhiệt vì vậy khi bị mắc bệnh này người bệnh nên dùng những món ăn thực phẩm có tính mát, thanh đạm như rau mã thầy, cần… Tránh ăn những thực phẩm có tính nóng, kích thích cay như gừng, tỏi, ớt…Dưới đây là một số món ăn dùng cho bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp.

Những món ăn cho người bệnh viêm đa khớp dạng thấp
- Đu đủ 10 g, mễ nhân (sống) 30 g. Rửa sạch, cho cả hai thứ vào nồi, đổ một bát nước to, đun lửa nhỏ đến khi thấy mễ nhân chín nhừ thì cho 1 thìa đường trắng vào, sấy khô. Hằng ngày dùng ăn điểm tâm.
- Thịt dê 500 g, cà rốt 250 g, gia vị vừa đủ. Cà rốt, thịt dê rửa sạch thái miếng, ướp gừng tươi xào 5 phút trong chảo dầu nóng, cho thêm ít rượu vang, muối, xì dầu và ít nước lạnh om trong 15 phút, sau bỏ vào nồi đất, cho vỏ quýt với 3 bát nước lã to, nổi lửa to, sôi hạ lửa riu riu đun trong 2 giờ khi thịt dê chín nhừ là được, ăn trong bữa cơm.
- Thịt mèo 250 g, tỏi 30 g, dầu, muối, mì chính. Làm sạch thịt mèo, thái miếng, tỏi bỏ vỏ. Cho vào nồi, đổ nước, dầu, muối hầm chín nhừ, nêm mì chính bắc ra ăn trong bữa.
- Ngũ gia bì 50 g, gạo nếp 500 g, men rượu vừa đủ. Rửa sạch ngũ gia bì, ngâm sau đó sắc ngũ gia bì bỏ bã lấy 2 lần nước sắc, đổ gạo nếp vào nấu thành cơm khô, sau tản ra chờ còn hơi ấm rắc men rượu vào trộn đều, ủ thành rượu nếp, ăn tùy thích.
- Lộc nhung (nhung hươu) 5 g, câu kỷ tử 20 g, rượu trắng một lít. Cho lộc nhung và câu kỷ tử vào rượu trắng ngâm trong một tuần, đậy kín, mỗi lần uống một chén con (chừng 25 ml-40 ml). Mỗi ngày một lần, một liệu trình là 15 ngày.
- Xương bò 60 g, sừng linh dương 60 g, thược dược phiến 60 g, rượu trắng 100 ml. Thuốc cho vào túi vải ngâm trong rượu 10 ngày. Uống vào lúc đói, mỗi lần một chén con.
- Lươn to 4-6 con (mỗi con nặng 500 g), rượu vàng một ít. Cho lươn vào rượu vàng đảo đều khi ráo bỏ ruột lươn, sấy khô tán bột lươn cho vào bình dùng dần, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15g chiêu với rượu vàng 2-3 thìa hoặc uống với nước sôi hay hòa vào cháo ăn. Mỗi liệu trình là 2 tháng.
IV.             Viêm đa khớp dạng thấp có thể gây tàn phế
Viêm đa khớp dạng thấp hủy hoại nhiều khớp một cách đối xứng, ngoài ra nó còn gây ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác như tim mạch, gây thiếu máu mệt mỏi cho toàn thân bệnh nhân. Nguy hiểm hơn n ếu như không được điều trị chặt chẽ, khớp sẽ bị biến dạng, hỏng khớp, mất vận động và có thể dẫn đến tàn phế.
Mọi nỗ lực của ngành y đều tập trung làm sao để bệnh nhân bị bệnh này có cuộc sống “thực” chứ không phải sống trong sự đau đớn do căn bệnh gây ra.
Viêm đa khớp dạng thấp là bệnh tự miễn, gây hủy hoại nhiều khớp một cách đối xứng khiến bệnh nhân đau đớn cùng cực khi vận động, đồng thời bệnh cũng gây ra hư hại ở nhiều cơ quan khác mà nguy hiểm nhất là ở tim mạch, gây thiếu máu, mệt mỏi toàn thân cho bệnh nhân. Bệnh xảy ra ở nữ giới nhiều gấp ba lần nam giới và chiếm tỉ lệ khoảng 0,05% toàn dân số.
Nguyên nhân của viêm đa khớp dạng thấp là do viêm của màng bao khớp dẫn tới tình trạng hư hại, biến dạng khớp một cách mau lẹ nếu không được điều trị. Các khớp hay bị sưng, đau, vận động gây đau đớn. Bệnh hay xảy ra trên khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu, vai, cổ chân, gối, khớp háng một cách đối xứng.
Những phát hiện mới trong các nghiên cứu được trình bày cho thấy bệnh nhân bị bệnh này có 30% bị bệnh lý tim mạch và trong số đó 50% có thể bị chết vì các bệnh lý tim mạch. Ngoài ra bệnh nhân còn có thể bị loãng xương toàn thân, thiếu máu, mệt mỏi toàn thân. Tại VN, nhiều bệnh nhân còn bị thêm biến chứng do dùng corticoide nên làm bệnh nặng hơn. Rất nhiều bệnh nhân rơi vào rối loạn tâm thần trầm cảm do bệnh tật.
Nhiều nghiên cứu được các giáo sư đầu ngành trình bày tại hội nghị cho thấy việc phối hợp, dùng sớm các nhóm thuốc cũ và mới giúp đẩy lui cơn bệnh, ngăn ngừa sự tàn phế, ngăn ngừa các biểu hiện ngoài khớp giúp bệnh nhân sống tốt hơn.
Tại VN, rào cản lớn nhất  cho người bệnh là giá thuốc quá cao và bảo hiểm không chi trả. Chưa kể việc chậm trễ dùng các thuốc điều trị cũ cũng như mới, cộng thêm tình trạng sử dụng corticoide tràn lan khiến bệnh nhân tàn phế nhanh hơn.
Tại Công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo chúng tôi đã có phương pháp hiện đại và mới nhất trong điều trị viêm đa khớp. Sản phẩm của chúng tôi nằm trong top 20 sản phẩm được người tiêu dung bình chọn,web benhvienthongminh..com. Với công nghệ hiện đại chúng tôi tự tin cống hiến cho bạn phương pháp điều trị dứt điểm bệnh viêm đa khớp, trả lại sức khỏe và cuộc sống bình thường vui vẻ cho người bệnh. Tùy theo lứa tuổi, sức đề khác và cơ địa của mỗi bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị khác nhau. Để được tư vấn và điều trị chính xác người bệnh vui lòng liên hệ chuyên gia của công ty theo đường dây nóng dưới đây:





Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Trị bệnh viêm mũi dị ứng tận gốc

    Bản chất của viêm mũi dị ứng chính là sự phản ứng miễn dịch của mũi xoang trước các tác nhân kích thích từ môi trường như: thời tiết, bụi bẩn, phấn hoa, nấm mốc, mùi lạ… 
    Các tác nhân kích thích gây dị ứng có thể xâm nhập theo các đường: hít thở, ăn uống, hoặc qua da. Như vậy chúng ta có thể thấy bệnh viêm mũi dị ứng phát sinh không phải do vi khuẩn, viêm nhiễm, tổn thương… mà hoàn toàn phụ thuộc vào cơ địa của mỗi người, có khi cùng một tác nhân kích thích nhưng có người bị viêm mũi dị ứng (mức độ nặng nhẹ cũng khác nhau) nhưng có người hoàn toàn lại không việc gì. 
    Do phụ thuộc vào cơ địa của từng người nên viêm mũi dị ứng thường mang yếu tố di truyền, người bị viêm mũi dị ứng được coi là người có cơ địa dị ứng.

Viêm mũi dị ứng thường có tính di truyền. Hình minh họa.

     Viêm mũi dị ứng cũng phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của mỗi người.Khi sức khoẻ suy giảm, chức năng gan yếu, lệch vách ngăn… cũng dễ bị viêm mũi dị ứng.
Viêm mũi dị ứng nếu kéo dài và liên tục có thể dẫn đến viêm mũi xoang nhiễm khuẩn, viêm xoang mũi mãn tính hoặc pôlip mũi - xoang...

Biểu hiện của viêm mũi dị ứng

    Hắt hơi: là triệu chứng điển hình của viêm mũi dị ứng. Những cơn hắt hơi mang tính đột ngột, nhiều lần, hắt hơi liên tục, kéo dài và thường xuyên tái phát trong đợt dị ứng. Với người viêm mũi dị ứng thời tiết sẽ hắt hơi rất nhiều khi gặp lạnh, có thể vào buổi sáng hoặc khi thời tiết thay đổi. Khi hắt hơi nhiều sẽ kéo theo cảm giác đau đầu do các cơ phải co thắt.
    Ngứa mũi: Cơn ngứa mũi thường xuất hiện sớm, nhất là ở trẻ em. Đôi khi, người bệnh ngứa cả mũi, mắt, họng hoặc cả ngoài da vùng cổ, da ống tai ngoài.
    Chảy nước mũi: Khi mới bị bệnh, người bệnh bị chảy dịch trong suốt, không có mùi ở cả hai bên mũi. Ở những ngày sau, nước mũi trở nên đục hơn do tình trạng bội nhiễm. Người bệnh bị chảy cả 2 bên mũi.Chảy nước mũi thường đi kèm với hắt hơi hoặc sau hắt hơi.
    Tắc ngạt mũi: Do chảy nhiều nước mũi và sự phù nề của niêm mạc làm cho ngạt mũi.  Có khi ngạt từng bên, có khi ngạt cả 2 bên khiến người bệnh phải thở bằng miệng.
    Đau: Ngoài cảm giác đầy, ngạt cứng trong mũi vì thiếu thở nên người bệnh có cảm giác đau nhức đầu, mệt mỏi, uể oải, giảm khả năng lao động chân tay, trí não.
    Chụp Xquang cũng không cho hình ảnh rõ rệt (khác với bệnh viêm xoang mãn tính sẽ cho thấy các hốc xoang chứa mủ).

Phân biệt VMDƯ với viêm xoang

    Viêm xoang và viêm mũi dị ứng là hai bệnh hoàn toàn khác nhau nhưng rất nhiều người thường nhầm lẫn giữa hai bệnh dẫn đến việc trị bệnh không đúng phương pháp làm bệnh tiến triển nặng hơn.Vì vậy cần phân biệt được các triệu chứng của hai bệnh này sẽ giúp cho việc chẩn đoán, điều trị hiệu quả hơn và phòng tránh được những biến chứng của bệnh.
    Đối với bệnh viêm xoang, do có triệu chứng nghẹt mũi và chảy nước mũi giống với viêm mũi dị ứng nên nhiều người thường nhầm lẫn giữa hai căn bệnh này. Tuy nhiên, ở  viêm xoang mũi, hiện tượng chảy dịch còn tùy theo mức độ nặng, nhẹ mà dịch nhầy sẽ có màu trắng đục, màu vàng, màu xanh hoặc có mùi hôi. Ngoài ra, so với bệnh viêm mũi dị ứng, bệnh viêm xoang còn có triệu chứng:
    Đau nhức: Vùng bị nhức tùy theo xoang bị viêm như xoang hàm nhức vùng má, xoang trán nhức giữa 2 lông mày, xoang sàng trước nhức giữa 2 mắt, xoang sàng sau, xoang bướm nhức trong sâu, nhức vùng gáy.
    Điếc mũi (mất ngửi): Thường xảy ra ở người bị viêm xoang mũi nặng do cuốn mũi bị phù nề nhiều, làm cho mùi sẽ không đến được thần kinh khứu giác nên người bệnh sẽ không ngửi thấy và cảm nhận được mùi.
    Như vậy, nếu bạn đau nhẹ vùng mặt, tức hoặc đau đầu vùng sau mắt hoặc trán, hoặc mất khả năng ngửi mùi và ngạt mũi, bạn có thể đã bị viêm xoang.Nếu bạn bị tình trạng này từ 3 lần trở lên trong một năm, bạn có thể đã bị viêm xoang mãn tính.Cần lưu ý, đôi khi người bị viêm xoang mà không chảy nước mũi, ngạt mũi hay khó thở, bởi chất nhày nằm kẹt sâu trong xoang.Bệnh viêm xoang nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ có thể biến chứng thành một số bệnh nguy hiểm như: viêm họng mãn tính, viêm màng não, viêm n ão, viêm xoang mũi mãn tính...

Các thể viêm mũi dị ứng

    Viêm mũi theo mùa: Thường gặp ở người trẻ, trẻ em lớn, hiếm gặp ở người già, có yếu tố gia đình, di truyền rõ. Dị nguyên thường là phấn hoa với điển hình là viêm mũi dị ứng mùa xuân với dị nguyên là hoa, cỏ... Các triệu chứng điển hình là hắt hơi, chảy nước mũi trong, ngạt tắc mũi chỉ xảy ra 7-15 ngày, thường kèm theo chảy nước mắt, viêm kết mạc, dị ứng đường hô hấp dưới gây khó thở, hen phế quản nhưng không gặp mẩn, ngứa ngoài da.
    Viêm mũi quanh năm: Các cơn tái phát thường xuyên, quanh năm, cũng thường có yếu tố gia đình. Dị nguyên rất đa dạng, thường gặp như bụi nhà, nấm mốc… và nhiều khi không xác định được dị nguyên. Các triệu chứng không điển hình như viêm mũi theo mùa, ngạt tắc mũi là triệu chứng thường gặp và gây khó chịu nhất, đôi khi gặp chảy nước mũi ra sau, xuống vòm.
    Viêm mũi nghề nghiệp: Xảy ra với dị nguyên đặc biệt trong môi trường lao động sản xuất, liên quan đến yếu  tố nghề nghiệp. Triệu chứng điển hình: hắt hơi, chảy nước mũi thường gặp, ở một số người có sốt nhẹ, ho, tức ngực hay cơn hen suyễn.

Điều trị như thế nào?

    Tránh các dị nguyên: Muốn điều trị viêm mũi dị ứng tr­ước hết phải tránh dị nguyên gây bệnh khỏi môi tr­ường sống như bụi nhà, nấm, mốc... Nghĩa là, tách hoàn toàn các dị nguyên đ­ược chẩn đoán là gây bệnh khỏi môi trường sống của bệnh nhân hoặc bệnh nhân tránh những nơi có dị nguyên gây bệnh.Nếu thực hiện được điều này là lý tưởng nhất, nhưng trên thực tế là rất khó.Tuy nhiên việc giảm tối đa số lượng dị nguyên cũng cải thiện đ­ược kết quả điều trị viêm xoang.
    Giải mẫn cảm đặc hiệu: Đây là liệu pháp miễn dịch, giải mẫn cảm hệ miễn dịch của bệnh nhân phải đối đầu với các dị nguyên gây bệnh đã đ­ược xác định.
Nên ăn nhiều rau quả để tăng sức đề kháng cho cơ thể. Hình minh họa.

    Điều trị triệu chứng: Đây là liệu pháp điều trị bằng thuốc, chỉ dùng khi các biện pháp điều trị theo nguyên nhân kể trên không đỡ hoặc không thể tiến hành điều trị theo nguyên nhân đư­ợc. Có thể dùng các thuốc kháng histamin (là những thuốc ức chế việc giải phóng hoặc tổng hợp các chất hóa học trung gian gây phản ứng dị ứng). Nặng hơn dùng corticoid hoặc kháng sinh (nếu bội nhiễm). Ngoài ra trong dân gian cũng dùng cây thuốc nh­ư: kim ngân hoa, ké đầu ngựa, cây cỏ hôi trong điều trị viêm mũi dị ứng. Biện pháp phẫu thuật chỉ thực hiện để giải quyết các dị hình ở hốc mũi gây viêm mũi dị ứng.
   Tốt nhất hãy đến benhvienthongminh.com để được kiểm tra tổng quát miễn phí và trị bệnh tận gốc. Đến với chúng tôi ngoài lợi ích được trị bệnh tận gốc phục hồi sức khỏe và tuổi trẻ mà còn nhiều lợi ích khác mà bạn không thể nghờ tới. Cam kết hoàn tiền 100% nếu không hết bệnh. Đừng để mất thời gian và tiền bạc với những nơi khác, đến với chúng tôi bạn được nhiều hơn điều bạn muốn.

Và phòng tránh

    Những trường hợp có cơ địa dễ bị dị ứng cần đề phòng bệnh viêm mũi dị ứng. Để phòng tránh, bạn cần hạn chế tối đa tiếp xúc với các tác nhân gây kích thích dị ứng: Giảm, tránh bụi trong nhà cũng như ngoài đường, tránh tiếp xúc với lông động vật (không nuôi chó, mèo trong nhà hoặc cho chúng ngủ trên giường), phấn hoa, mùi lạ, không hút thuốc lá. Cần giặt giũ định kỳ chăn, ga, gối, đệm, vải bọc ghế, bọc đệm, màn cửa.Môi trường sống, học tập, làm việc cần thoáng, mát, sạch sẽ, tránh ẩm ướt để hạn chế nấm mốc phát triển. Giữ ấm cơ thể khi nhiệt độ thay đổi hoặc khi chuyển mùa, nhất là về sáng hoặc mùa lạnh… Cần nghỉ ngơi, sinh hoạt điều độ, và tăng cường hệ miễn dịch (ăn nhiều rau quả, bổ sung vitamin khi cần thiết…) để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.


BS. Ngô Cao Lãm