Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm xương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm xương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH CHỮA BỆNH PHONG THẤP HIỆU QUẢ.

http://www.benhvienthongminh.com

I.                   BỆNH PHONG THẤP LÀ GÌ?


- Bệnh phong thấp là một bệnh kinh niên nguy hiểm gây tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt là ở các khớp xương, hệ thần kinh, tim và các tổ chức dưới da. Đây là một chứng bệnh rất khó chuẩn đoán vì những triệu chứng của nó khá giống với những bệnh khác hoặc triệu chứng của nó không rõ ràng, bệnh thường có những đợt cấp tính, tái phát và các giai đoạn ổn định, cho nên tùy theo từng giai đoạn diễn biến của bệnh có tổn thương chính nằm ở cơ quan nào và tiến triển đến giai đoạn nào mà gọi tên cho phù hợp như : thấp khớp cấp, thấp khớp tái phát, thấp tim cấp, thấp tim tái phát, di chứng van tim hậu thấp, thấp tim tiến triển..
- Nhiều người tưởng rằng phong thấp là bệnh của tuổi già. Nhưng họ đã nhầm to, vì không hiếm người ở độ tuổi 20-40 cũng mắc bệnh này. Khi đó, phải chuẩn bị tư tưởng để chung sống suốt đời với nó.

- Giai đoạn chuyển mùa là những ngày khổ cực nhất của người bị bệnh phong thấp. Họ thường than thở rằng da thịt, thậm chí toàn bộ xương cốt trong người cứ như bị bó chặt, đau tựa kim châm, như bị dao cứa…Phong thấp chính là bệnh viêm khớp xương. Triệu chứng ban đầu là khớp xương sưng đau, mà trước tiên là các khớp ngón tay và cổ tay. Sau đó, hiện tượng này chuyển dần tới khuỷu tay, mắt cá chân và các khớp khác, chẳng bao lâu sau sẽ lan dần đến hai mươi khớp xương còn lại. Đặc trưng của bệnh là các khớp sưng đau có tính chất đối xứng. Nếu thấy xuất hiện thêm triệu chứng cứng chân, cứng tay vào sáng sớm khi ngủ dậy có nghĩa là bệnh đã chuyển thành mạn tính.
- Triệu chứng của bệnh phong thấp rất dễ lẫn với một số bệnh xương khớp khác như chứng khớp xương biến dạng, hiện tượng xương và khớp bị lão hóa. Vì vậy, trong thực tế, đã có những người bị chẩn đoán mắc chứng phong thấp, nhưng khi khám kỹ ở chuyên khoa thì hóa ra lại bị khớp xương lão hóa, biến dạng.
- Về điều trị, loại hoóc môn do vỏ bên ngoài tuyến thượng thận tiết ra rất công hiệu với bệnh. Tuy nhiên, ngoài những tình huống đặc biệt, không nên sử dụng vì hoóc môn này làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với vi khuẩn và gây những phản ứng phụ khó lường. Nhưng dù dùng loại thuốc nào, người bệnh đều phải nghiêm ngặt tuân theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Ngoài việc dùng thuốc, có thể áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như: dùng sóng cực ngắn, tắm hơi (xông hơi), tắm nước nóng, châm cứu, tắm nắng…
Điều tối quan trọng trong việc điều trị bệnh phong thấp là chuẩn bị tâm lý chữa bệnh.
- Đây là thứ bệnh chưa rõ nguyên nhân và chưa có phương sách gì điều trị dứt điểm. Vì vậy, cần chuẩn bị tư tưởng và có kế hoạch để “chiến đấu” lâu dài
Biểu hiện bệnh này như thế nào?1. Viêm khớp: là biểu hiện thường gặp nhất, có ở 75% các bệnh nhân phong thấp ở giai đoạn cấp tính. Viêm khớp thường xảy ra sau 1-2 tuần bị viêm họng với sốt, đau họng, nuốt đau, họng bị đỏ, sần sùi, 2 amidan to, đỏ nhưng có khi không có viêm họng đi trước.
II.                DI CHỨNG CỦA BỆNH PHONG THẤP
1. Viêm khớp:  biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Thường là viêm nhiều khớp; khớp lớn: khớp gối, khuỷu, vai, cổ tay, cổ chân; di chuyển từ khớp này qua khớp khác rất nhanh, đôi khi có tràn dịch với nước trong, nhưng không bao giờ hóa mủ, tự khỏi sau 5-15 ngày, không để lại di chứng, không biến dạng khớp, không cứng khớp, không teo cơ, không giới hạn cử động kéo dài, chỉ trừ lúc khớp đang viêm, bệnh nhân có thể không đi được do đau trong vài ngày rồi tự lành dù không điều trị.

2. Viêm tim: là biểu hiện nặng nhất ở trẻ em, có thể gây tử vong nếu nặng và thường để lại di chứng tạo thành các bệnh van tim hậu thấp.
Viêm tim từng xảy ra trong đợt thấp lần đầu hay lần thứ hai, có thể xuất hiện một mình hoặc kèm theo các triệu chứng khác ở khớp, da, thần kinh. Thấp tim đợt cấp có thể gây Viêm nội tâm mạc, cơ tim, màng ngoài tim hay cả 3 lớp cùng một lúc.
- Ðể có ý niệm về tiên lượng, có thể chia ra ở các mức độ:
. Viêm tim nhẹ
. Viêm tim trung bình
. Viêm tim nặng

3. Múa vờn: xảy ra ở khoảng 10-15% các bệnh nhân bị thấp. Múa vờn có thể là một triệu chứng đơn độc của phong thấp hoặc có thể phối hợp với nhiều triệu chứng khác.Ðây là biểu hiện của thần kinh trung ương, thường xảy ra chậm 2 – 6 tháng sau khi bị viêm họng, khi đó các triệu chứng khác của phong thấp đã hết. Bệnh bắt đầu từ từ, trẻ đang bình thường, bắt đầu có những động tác vụng về như cầm đồ vật hay bị rớt, viết chữ xấu đi, không thẳng nét; trẻ trở nên ngớ ngẩn, học kém hơn bình thường.
- Ðến giai đoạn toàn phát, trẻ hay hốt hoảng, lo lắng, nói năng khó khăn, nói không thành câu, viết khó, chữ viết xiêu vẹo, không ngay hàng, vẽ khó, làm những động tác khéo léo bằng tay khó khăn, đi đứng loạng choạng muốn ngã, nghiến răng, sức cơ trở nên yếu rồi không đi được.
- Khi bệnh nặng, trẻ có những động tác bất thường, tay chân múa may, quờ quạng. Hai tay không giữ yên được, luôn luôn có những động tác bất thường, không chính xác, biên độ rộng, không nhịp nhàng. Các cơ hay bị tổn thương nhất là ở mặt và 2 tay. Múa vờn thường được khởi phát bởi xúc động về tâm lý, tăng mạnh bởi các kích thích từ bên ngoài, gắng sức, mệt mỏi và lắng dịu khi trẻ ngủ. Múa vờn thường kéo dài cả mấy tuần, mấy tháng, có khi cả năm nhưng không để lại di chứng.

4. Nốt cục dưới da: là những hạt tròn, cứng, di động, không đau, sờ được ở những xương nhô ra và có da mỏng như khủy tay, cổ tay, cổ chân, bàn chân, da đầu vùng chẩm, xương bả vai, gai xương chậu, xương sống xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần rồi hết, không để lại di chứng. Ngày nay, các nốt cục dưới da này ít gặp, chỉ thấy ở khoảng 1% số bệnh nhân phong thấp.

5. Hồng ban vòng: là triệu chứng ngoài da điển hình của phong thấp nhưng cũng hiếm gặp khoảng dưới 5%. Ðó là các đốm màu hồng, ở giữa nhạt màu hơn, có bờ tròn xung quanh, thường thấy ở ngực, gốc tứ chi, không có ở mặt và niêm mạc. Hồng ban thường di chuyển, không ngứa và thường để lại di chứng.Như vậy người trẻ tuổi cũng có thể bị phong thấp không phải là hiếm và bạn nên chú ý những thay đổi bất thường của cơ thể để chăm sóc bản thân được tốt hơn

III.             TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PHONG THẤP ?
-  Khi bị bệnh phong thấp triệu chứng dễ nhận thấy của bệnh đó là cảm thấy cứng ở các đầu khớp xương và ảnh hưởng nhiều nhất đó là các khớp xương tay, đầu gối, vai, xương chậu, đặc biệt nhất là trên xương sống. Khi chúng ta vận động cảm thấy đau ở các khớp xương này, có khi bị sưng, nắn xung quanh các khớp xương sẽ cảm thấy đau và cử động các khớp xương bị hạn chế có khi phát ra tiếng kêu răng rắc bên trong

 - Các khớp xương đau nhức và sưng lên, nhất là các khớp xương nhỏ của bàn chân và bàn tay
-  Buổi sáng sau khi ngủ dậy hoặc sau một thời gian nghỉ ngơi cảm cảm thấy đau nhức hoặc cứng toàn thể những khớp xương và bắp thịt
-  Triệu chứng bệnh phong thấp làm rối loạn tự miễn dịch có thể gây khô mắt, mũi, miệng và cổ họng hoặc có thể khô da do bị viêm tuyến tiết dịch làm ẩm
 -  Xuất hiện nốt dưới da  những cục u cứng nằm dưới da gần chỗ khớp bị đau, những cục u này thường xuất hiện phía sau khuỷu tay và đôi khi xuất hiện cả trong mắt
-  triệu chứng phổ biến nhất của viêmkhớp thấp là đau nhức ở các khớp. Khi bị đau khớp, mọi người thường nghĩ do vận động quá sức hoặc viêm xương khớp 
-  Đăc biệt phong thấp có thể gây viêm các tuyến nước bọt, nước mắt, màng phổi, tim và ngay cả các mạch máu.
IV.             NGUYÊN NHÂN NÀO GÂY RA BỆNH PHONG THẤP ?
- Do các màng lót các khớp xương bị sưng lên khiến tiết ra một chất đạm làm màng này càng ngày càng dày lên, chất đạm này cũng phá hủy dần lớp xương, sụn, gân và những dây chằng nơi khớp. qua thời gian dần dần khiến những khớp xương bị dị dạng méo mó dẫn đến có thể bị phá hủy
- Những nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng điều khiến các màng lót bị sưng lên là do nhiễm trùng, một số người có những gien di truyền khiến họ dễ bị nhiễm trùng và yếu tố khác như tuổi già, phái nữ, hút thuốc lá..

V.                PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH: 
+ Dùng phương pháp lọc máu lấy bớt những kháng thể làm viêm và đau khớp
+ Khi khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều có thể giải phẫu thay khớp để có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau
+ Hiện nay để điều trị bệnh phong thấp ta có thể áp dụng bằng phương pháp đông y, bạn có thể tham khảo các bàithuốc dân gian hoặc những bài thuốc cổ chữa bệnh phong thấp cũng khá tốt và bạn có thể tham khảo các bài thuốc sau đây : 

- Thể phong thấp
+ Triệu chứng: Các khớp và thân thể đau nhức, đau thường chạy từ khớp này sang khớp kia, các khớp khó cử động, cơ thể phát sốt, toàn thân mệt mỏi, thích nằm, mạch phù. Bài 1: Rễ xấu hổ 16g, thiên niên kiện 10g, vòi voi 16g, huyết đằng 16g, thổ linh 20g, độc hoạt 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Hy thiêm 16g, cỏ xước 16g, rễ bưởi bung, kinh giới 16g, phòng phong 12g, thương nhĩ 16g, tang ký sinh 16g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một thang.
- Thể hàn thấp
+ Triệu chứng: Đau ở một khớp hoặc nhiều khớp, đau cố định, không chạy như phong thấp. Càng lạnh càng đau. Đau nhiều về đêm. Các khớp khó co duỗi. Chân tay lạnh, da lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn, đại tiện thường lỏng. Bài 1: Thương nhĩ tử (sao) 16g, thiên niên kiện 10g, rễ cỏ xước 16g, rễ cà gai leo 16g, rễ tất bát 12g, nam tục đoạn 16g, ngải diệp (sao) 16g, quế chi 10g, trần bì 10g, thổ phục linh 20g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Nam tục đoạn 16g, kinh giới 16g, kê huyết đằng 16g, độc hoạt 12g, cỏ xước 16g, thủ ô chế 16g, bưởi bung 16g, ngũ gia bì 16g, quế 10g, thiên niên kiện 10g, xuyên khung 12g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày một thang (uống khi nước thuốc còn nóng).
- Thể tê thấp
+ Triệu chứng: Đau nhức nặng nề, da thịt tê bì, đi lại chậm chạp khó khăn, đau dai dẳng, nhận biết cảm giác bị giảm. Nếu bệnh nặng có thể bị tê liệt một bên cơ thể. Trường hợp này mạch nhu hoãn. Cách chữa: Khu phong tán hàn, trừ thấp. Bài 1: Tang ký sinh 16g, phòng phong 12g, kinh giới 16g, tất bát 12g, huyết đằng 16g, tế tân 6g, thiên niên kiện 10g, ngũ gia bì 16g, xuyên khung 12g, độc hoạt 12g, hà thủ ô (chế) 16g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Bài thuốc chườm: Ngải diệp và lá cúc tần, mỗi thứ một nắm sao rượu, khi còn đang nóng chườm vào nơi đau. Công dụng: giảm đau, chống viêm, thông kinh hoạt lạc, phục hồi chức năng sinh lý cho xương khớp. Chú ý: Bệnh nhân cần nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý; chống lạnh, tránh nơi ẩm thấp, luôn luyện tập và kết hợp xoa bóp để chống xơ cứng.
VI. SỰ CẤM KỴ TRONG KHI DÙNG THUỐC

6.1. Những vị thuốc cấm kỵ khi có thai

a. Loại cấm dùng: Ba đậu (tả hạ), Khiên ngưu, Đại kích, Thương lục (trục thuỷ): Tam thất (hoạt huyết); Sạ hương (phá khí); Nga truật, Thuỷ diệt, Manh trùng (phá huyết). Các vị thuốc trên có tác dụng trục thuỷ, tả hạ, phá khí, phá huyết.

b. Loại dùng thận trọng: Đào nhân, Hồng hoa (hoạt huyết); Bán hạ, Đại hoàng (tả hạ): Chỉ thực (phá khí); Phụ tử, Can khương, Nhục quế (đại nhiệt). Các vị thuốc trên có tác dụng phá khí, tả hạ, hoạt huyết, đại nhiệt.

6.2. Các vị thuốc tương phản lẫn nhau

- Cam thảo chống: Cam toại, Nguyên hoa, Hải tảo

- Ô dầu phản: Bối mẫu, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm.

- Lê lô phản: các loại Sâm, Tế tân, Bạch thược

6.3. Cấm kỵ trong khu uống thuốc

Cam thảo, Hoàng liên, Cát cánh, Ô mai kiêng ăn thịt lợn: Bạc hà kiêng Ba ba; Phục linh kiêng gấm.

Khi ăn uống chú ý không nên dùng các thức ăn chống lại tác dụng của thuốc.

Thí dụ: dùng thuốc ôn trung trừ hàn (nóng ấm) không ăn các đồ ăn lạnh; dùng các thuốc kiện tỳ, tiêu đạo không nên ăn chất béo, chất khó tiêm dùng thuốc an thần không nên ăn chất kích thích

- Nếu các bạn chưa hiểu về các bài thuốc cũng như cách áp dụng bài thuốc trên liên hệ các chuyên gia của Công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo. Đường dây nóng: 0935141438-Mr Tâm để được tư vấn và cắt thuốc chữa bệnh phong thấp và chữa viêm amidan hiệu quả nhất .



Viêm đa khớp,di chứng và điều trị mới nhất

http://www.benhvienthongminh..com
I.                   Nguyên nhân và triệu chứng viêm đa khớp dạng thấp
Nguyên nhân:
Khi thời tiết thay đổi đột ngột các khớp của bạn bị sưng đau, cứng, nóng đỏ..Đó là triệu chứng của bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Bệnh này thường xuất hiện ở những người bị viêm họng cấp hoặc mãn tính do chủng vi khuẩn liên cầu tan huyết nhóm A gây nên.

Triệu chứng viêm đa khớp dạng thấp
§    Đối xứng: Thường viêm ở 2 khớp đối xứng nhau như ở hai đầu gối, hai ngón tay cùng vị trí ở hai bàn tay.
§    Cứng khớp buổi sáng, thức dậy không thể vận động được ngay mà phải xoay khớp, xoa bóp chừng 10-15 phút mới có thể xuống giường.
§    Tiếp đến là đau khớp, nhất là các khớp nhỏ như: khớp bàn ngón tay, cổ tay, bàn ngón chân, cổ chân.
§    Các khớp có đặc điểm là viêm đau, có thể sưng nhưng không đỏ lên. Bao giờ cũng có hiện tượng đau đối xứng hai bên.
§    Cuối cùng, nếu bàn tay, bàn chân bị biến dạng sau một thời gian đau khớp thì có nghĩa là bệnh đã đến giai đoạn nặng, dần dẫn đến tình trạng dính, biến dạng khớp, thậm chí có thể gây tàn phế.
Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp
Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp rất đa dạng, bệnh nhân có thể gặp một hoặc nhiều các triệu chứng sau:
§    Bệnh nhân gầy sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, da và niêm mạc xanh nhợt.
§    Xuất hiện hạt dưới da ở trên xương tru ( gần khớp khuỷu tay ), trên xương chày (gần khớp gối), quanh khớp cổ tay. Hạt có đường kính 5 – 15 mm nổi lên trên mặt da, chắc, không đau, không di động.
§    Ban đỏ gan bàn chân và lòng bàn tay do viêm mao mạch.
§    Teo cơ ở vùng quanh khớp tổn thương do giảm vận động.
§    Viêm gân và bao gân quanh khớp.
§    Dây chằng khớp viêm co kéo hoặc giãn gây lỏng lẻo khớp.
§    Bao khớp phình to.
§    Ngoài ra có một số biểu hiện nội tặng hiếm gặp: tràn dịch màng tim, tràn dịch màng phổi, xương mất chất vôi gãy tự nhiên, rối loạn thần kinh thực vật…
Nguyên nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.
Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).
Di truyền: viêm đa khớp dạng thấp có tính gia đình, có liên quan với tổ chức HLA DR4 (gặp 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).
Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.
II.               Phòng ngừa và điều trị Viêm Đa Khớp Dạng Thấp
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh mà khi đã thành mạn tính thì khó có thể chữa khỏi. Đây là một bệnh tự miễn nghĩa là cơ thể tự sinh ra những “chất” chống lại chính khớp và gây đau
Vì là bệnh tự miễn nên việc điều trị dứt điểm thường rất khó khăn. Điều trị thường là kéo dài từ 1-2 tháng đến vài năm và có khi là điều trị suốt đời. Vấn đề chủ yếu chỉ là làm giảm các đợt vượng bệnh và kiên trì tuân thủ điều trị.
Viêm đa khớp dạng thấp là một bệnh phổ biến ở nước ta nhất là ở nữ giới độ tuổi từ 40 trở lên. Nguyên nhân gây bệnh có thế là do yếu tố cơ địa, di truyền hoặc do các tác nhân từ môi trường. Viêm đa khớp dạng thấp là bệnh mạn tính vì vậy quá trình điều trị phải kiên trì và liên tục mới có khả năng khỏi bệnh.

1. Phương pháp vật lý và phục hồi chức năng.

a. Điều trị chống viêm giảm đau.

- Nhiệt trị liệu : Là phương pháp dùng nhiệt nóng có tác dụng tăng tuần hoàn, dinh dưỡng tại chỗ, giảm đau chống viêm. Tăng tuần hoàn giúp phân tán các chất trung gian viêm, tăng nuôi dưỡng và hồi phục nhanh tổn thương. Cần chú ý chống chỉ định nhiệt nóng trong trường hợp viêm cấp có sưng nóng, phù nề hoặc tràn dịch khớp. Các phương pháp dùng nhiệt nóng là:
§    Tắm ngâm : nước nóng toàn thân, nước muối, nước lưu huỳnh (H2S), nước phóng xạ Radon, nước khoáng thiên nhiên…
§    Đắp nóng tại khớp: paraffin, túi nhiệt, bùn nóng, cát nóng.
§    Sóng ngắn : dùng liều ấm với những khớp trung bình và lớn hoặc các khớp sâu như cổ tay, khuỷu, vai, cổ chân, gối, háng…
§    Siêu âm: điều trị tại chỗ đau có tác dụng giảm đau, chống thoái hóa do tác dụng cơ học, nhiệt và hóa học. Có thể dùng siêu âm để dẫn thuốc như: các thuốc mỡ chống viêm, chế phẩm Omega 3…
§    Hồng ngoại.
§    Tử ngoại: dùng 3-5 liều sinh lý, mỗi ngày chiếu 300-400cm2. Chiếu kín toàn bộ khớp đau và vùng lân cận, nghỉ 2-3 ngày cho phản ứng đỏ da giảm bớt rồi lại chiếu tiếp. Một đợt 5-6 lần chiếu. Tác dụng giảm đau, chống viêm, giảm mẫn cảm khớp.
§    Khí hậu trị liệu : nên sống ở vùng có khí hậu nhiệt đới.
- Điện trị liệu:
§    Dòng Galvanic đơn thuần hoặc điện di thuốc salicylat, hydrocortison vào khớp để chống viêm.
§    Điện xung: dòng hình sin, dòng TENS, dòng giao thoa.
§    Từ trường: có tác dụng giảm đau và chống thưa xương.
§    Xoa bóp: Có tác dụng giảm đau, giảm co cơ, được dùng trong một số trường hợp thoái hóa khớp, viêm dính khớp. Tốt nhất là xoa bóp bằng tay với các động tác xoa, vuốt, day.

b. Vận động phục hồi chức năng khớp.

- Trong giai đoạn viêm cấp:
Viêm khớp có sưng, đau nặng cần bất động khớp để hạn chế viêm phát triển. Tuy nhiên theo quan niệm cũ là phải nghỉ ngơi lâu dài trên giường, như thế sẽ tạo ra các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng và gây thương tật thứ phát. Do đó, cho nghỉ ngơi phải cân nhắc kỹ những điểm lợi và hại. Đối với đau khớp có thể tiến hành nghỉ ngơi như sau:
§    Khớp gối và khớp cổ chân bị đau có thể được bó cố định bằng băng thun, người bệnh có thể đi lại được do cử động khớp hông và khớp cột sống thắt lưng để bù trừ thay thế.
§    Khớp cổ tay cố định, người bệnh có thể sử dụng khớp khuỷu, vai, bàn và ngón tay.
§    Khớp hông, khớp vai là các khớp lớn có tầm vận động rộng rãi cũng phải bất động tương đối, cho vận động nhẹ nhàng các khớp gối, khuỷu, cổ chân, cổ tay, bàn chân, bàn tay.
- Khi viêm cấp lui giảm:
+ Giữ tư thế: Là biện pháp quan trọng đối với bệnh nhân viêm khớp, bao gồm các hoạt động sinh hoạt như: nằm, ngồi, đi, đứng.
§    Khi nằm : cần nằm phản cứng hoặc chỉ lót đệm mỏng, gối để thấp, lưng nằm phẳng, không nên dùng gối kê dưới khoeo chân để tránh biến dạng gấp và cứng khớp gối. Trong một ngày bệnh nhân phải nằm sấp ít nhất 2 lần, mỗi lần ít nhất 15 phút, để 2 bàn chân ra mép giường, 2 cánh tay duỗi thẳng về phía đầu.
§    Khi ngồi : nên ngồi trên mặt ghế cứng và lưng tựa thẳng, đặt 2 bàn chân sát lên mặt nền, hông và vai tựa vào thành ghế. Tránh ngồi ghế thấp quá không để khối gối vuông góc, tránh ngồi quá cao để 2 chân duỗi tự do.
§    Khi đứng : đứng dáng vươn lên và đầu thẳng, giữ thẳng khớp hông và gối, làm cho lực phân bố đều lên 2 bàn chân.
§    Khi đi : bước đi dứt khoát không để kéo lê bàn chân, không đi với 2 chân nghiêng kéo rê mặt nền, dáng đi chậm rãi nhẹ nhàng, để 2 tay đu đưa thoải mái bên thân mình, không đi với khớp hông và gối cong gập (đi khom).
+ Tập vận động: Cần tập vận động sớm, gồm vận động thụ động, vận động chủ động và vận động có dụng cụ.
§    Cần chú ý: ở giai đoạn này khớp viêm có cấu trúc yếu nên vận động mạnh dễ bị rách, đứt gân cơ, dây chằng. Đồng thời phần đầu xương gần khớp bị loãng xương nên dễ bị gẫy, đặc biệt là các khớp nhỏ như các khớp bàn ngón, khớp đốt ngón rất dễ gẫy ngay cả khi vận động chủ động.
§    Nguyên tắc tập vận động là: tập các động tác phải thận trọng, tăng từ từ. Tập nhẹ nhàng xen lẫn nghỉ ngơi, không tập gắng sức có thể làm đau thêm. Cố gắng khuyến khích người bệnh tự tập để đạt tầm vận động tối đa, tốt nhất là hết tầm vận động.
§    Phương pháp tập: mỗi ngày tập ít nhất 3-5 lần, thời gian đầu có thể chưa có khả năng vận động tới mức tối đa, nhưng mỗi ngày bệnh nhân có thể đạt được tiến bộ tăng dần.
§    Tập một số động tác để tăng sức cơ như: khi tập vận động khớp háng, khớp gối phải tập động tác tăng sưc cơ tứ đầu đùi và cơ mông lớn. Vì cơ tứ đầu đùi có chức năng duỗi khớp gối cần cho hoạt động đi, đứng, lên cầu thang, đứng dậy khỏi ghế. Cơ mông to có chức năng duỗi hông, chống lại khuynh hướng gấp và phối hợp với cơ tứ đầu đùi để lên cầu thang và đứng dậy khỏi ghế.
+ Bất động khớp:
§    Khi tình trạng khớp co rút nhiều và kéo dài thì phương pháp tập vận động chưa đủ, hoặc không đạt được hiệu quả cần thiết do cấu trúc của các thành phần khớp đã bị tổn thương rút ngắn lại. Khi đó cần dùng một nẹp máng bột để bất động khớp ở mức duỗi tối đa.
§    Sau đó người bệnh vẫn đi lại tập luyện. Một tuần sau ta thay bằng một máng bột có độ duỗi nhiều hơn. Tiếp tục làm thay đổi máng bột nhiều lần cho đến khi khớp lấy lại độ duỗi gần như bình thường để đáp ứng được chức năng của nó.

2. Điều trị ngoại khoa.

§    Bóc bỏ màng hoạt dịch.
§    Phẫu thuật chỉnh hình khi có biến dạng đứt dây chằng, trật khớp.
Viêm đa khớp dạng thấp là bệnh cần điều trị lâu dài và kiên trì, vì vậy người bệnh cần phải kiên nhẫn và tuyệt đối tuân thủ theo các hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
III.            Người mắc bệnh viêm đa khớp dạng thấp nên ăn gì?
Theo đông y bệnh viêm đa khớp dạng thấp là chứng bệnh thấp nhiệt vì vậy khi bị mắc bệnh này người bệnh nên dùng những món ăn thực phẩm có tính mát, thanh đạm như rau mã thầy, cần… Tránh ăn những thực phẩm có tính nóng, kích thích cay như gừng, tỏi, ớt…Dưới đây là một số món ăn dùng cho bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp.

Những món ăn cho người bệnh viêm đa khớp dạng thấp
- Đu đủ 10 g, mễ nhân (sống) 30 g. Rửa sạch, cho cả hai thứ vào nồi, đổ một bát nước to, đun lửa nhỏ đến khi thấy mễ nhân chín nhừ thì cho 1 thìa đường trắng vào, sấy khô. Hằng ngày dùng ăn điểm tâm.
- Thịt dê 500 g, cà rốt 250 g, gia vị vừa đủ. Cà rốt, thịt dê rửa sạch thái miếng, ướp gừng tươi xào 5 phút trong chảo dầu nóng, cho thêm ít rượu vang, muối, xì dầu và ít nước lạnh om trong 15 phút, sau bỏ vào nồi đất, cho vỏ quýt với 3 bát nước lã to, nổi lửa to, sôi hạ lửa riu riu đun trong 2 giờ khi thịt dê chín nhừ là được, ăn trong bữa cơm.
- Thịt mèo 250 g, tỏi 30 g, dầu, muối, mì chính. Làm sạch thịt mèo, thái miếng, tỏi bỏ vỏ. Cho vào nồi, đổ nước, dầu, muối hầm chín nhừ, nêm mì chính bắc ra ăn trong bữa.
- Ngũ gia bì 50 g, gạo nếp 500 g, men rượu vừa đủ. Rửa sạch ngũ gia bì, ngâm sau đó sắc ngũ gia bì bỏ bã lấy 2 lần nước sắc, đổ gạo nếp vào nấu thành cơm khô, sau tản ra chờ còn hơi ấm rắc men rượu vào trộn đều, ủ thành rượu nếp, ăn tùy thích.
- Lộc nhung (nhung hươu) 5 g, câu kỷ tử 20 g, rượu trắng một lít. Cho lộc nhung và câu kỷ tử vào rượu trắng ngâm trong một tuần, đậy kín, mỗi lần uống một chén con (chừng 25 ml-40 ml). Mỗi ngày một lần, một liệu trình là 15 ngày.
- Xương bò 60 g, sừng linh dương 60 g, thược dược phiến 60 g, rượu trắng 100 ml. Thuốc cho vào túi vải ngâm trong rượu 10 ngày. Uống vào lúc đói, mỗi lần một chén con.
- Lươn to 4-6 con (mỗi con nặng 500 g), rượu vàng một ít. Cho lươn vào rượu vàng đảo đều khi ráo bỏ ruột lươn, sấy khô tán bột lươn cho vào bình dùng dần, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15g chiêu với rượu vàng 2-3 thìa hoặc uống với nước sôi hay hòa vào cháo ăn. Mỗi liệu trình là 2 tháng.
IV.             Viêm đa khớp dạng thấp có thể gây tàn phế
Viêm đa khớp dạng thấp hủy hoại nhiều khớp một cách đối xứng, ngoài ra nó còn gây ảnh hưởng đến nhiều cơ quan khác như tim mạch, gây thiếu máu mệt mỏi cho toàn thân bệnh nhân. Nguy hiểm hơn n ếu như không được điều trị chặt chẽ, khớp sẽ bị biến dạng, hỏng khớp, mất vận động và có thể dẫn đến tàn phế.
Mọi nỗ lực của ngành y đều tập trung làm sao để bệnh nhân bị bệnh này có cuộc sống “thực” chứ không phải sống trong sự đau đớn do căn bệnh gây ra.
Viêm đa khớp dạng thấp là bệnh tự miễn, gây hủy hoại nhiều khớp một cách đối xứng khiến bệnh nhân đau đớn cùng cực khi vận động, đồng thời bệnh cũng gây ra hư hại ở nhiều cơ quan khác mà nguy hiểm nhất là ở tim mạch, gây thiếu máu, mệt mỏi toàn thân cho bệnh nhân. Bệnh xảy ra ở nữ giới nhiều gấp ba lần nam giới và chiếm tỉ lệ khoảng 0,05% toàn dân số.
Nguyên nhân của viêm đa khớp dạng thấp là do viêm của màng bao khớp dẫn tới tình trạng hư hại, biến dạng khớp một cách mau lẹ nếu không được điều trị. Các khớp hay bị sưng, đau, vận động gây đau đớn. Bệnh hay xảy ra trên khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu, vai, cổ chân, gối, khớp háng một cách đối xứng.
Những phát hiện mới trong các nghiên cứu được trình bày cho thấy bệnh nhân bị bệnh này có 30% bị bệnh lý tim mạch và trong số đó 50% có thể bị chết vì các bệnh lý tim mạch. Ngoài ra bệnh nhân còn có thể bị loãng xương toàn thân, thiếu máu, mệt mỏi toàn thân. Tại VN, nhiều bệnh nhân còn bị thêm biến chứng do dùng corticoide nên làm bệnh nặng hơn. Rất nhiều bệnh nhân rơi vào rối loạn tâm thần trầm cảm do bệnh tật.
Nhiều nghiên cứu được các giáo sư đầu ngành trình bày tại hội nghị cho thấy việc phối hợp, dùng sớm các nhóm thuốc cũ và mới giúp đẩy lui cơn bệnh, ngăn ngừa sự tàn phế, ngăn ngừa các biểu hiện ngoài khớp giúp bệnh nhân sống tốt hơn.
Tại VN, rào cản lớn nhất  cho người bệnh là giá thuốc quá cao và bảo hiểm không chi trả. Chưa kể việc chậm trễ dùng các thuốc điều trị cũ cũng như mới, cộng thêm tình trạng sử dụng corticoide tràn lan khiến bệnh nhân tàn phế nhanh hơn.
Tại Công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo chúng tôi đã có phương pháp hiện đại và mới nhất trong điều trị viêm đa khớp. Sản phẩm của chúng tôi nằm trong top 20 sản phẩm được người tiêu dung bình chọn,web benhvienthongminh..com. Với công nghệ hiện đại chúng tôi tự tin cống hiến cho bạn phương pháp điều trị dứt điểm bệnh viêm đa khớp, trả lại sức khỏe và cuộc sống bình thường vui vẻ cho người bệnh. Tùy theo lứa tuổi, sức đề khác và cơ địa của mỗi bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị khác nhau. Để được tư vấn và điều trị chính xác người bệnh vui lòng liên hệ chuyên gia của công ty theo đường dây nóng dưới đây:





Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH CHỮA BỆNH PHONG THẤP HIỆU QUẢ.

http://www.benhvienthongminh.com

I.                   BỆNH PHONG THẤP LÀ GÌ?


- Bệnh phong thấp là một bệnh kinh niên nguy hiểm gây tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt là ở các khớp xương, hệ thần kinh, tim và các tổ chức dưới da. Đây là một chứng bệnh rất khó chuẩn đoán vì những triệu chứng của nó khá giống với những bệnh khác hoặc triệu chứng của nó không rõ ràng, bệnh thường có những đợt cấp tính, tái phát và các giai đoạn ổn định, cho nên tùy theo từng giai đoạn diễn biến của bệnh có tổn thương chính nằm ở cơ quan nào và tiến triển đến giai đoạn nào mà gọi tên cho phù hợp như : thấp khớp cấp, thấp khớp tái phát, thấp tim cấp, thấp tim tái phát, di chứng van tim hậu thấp, thấp tim tiến triển..
- Nhiều người tưởng rằng phong thấp là bệnh của tuổi già. Nhưng họ đã nhầm to, vì không hiếm người ở độ tuổi 20-40 cũng mắc bệnh này. Khi đó, phải chuẩn bị tư tưởng để chung sống suốt đời với nó.

- Giai đoạn chuyển mùa là những ngày khổ cực nhất của người bị bệnh phong thấp. Họ thường than thở rằng da thịt, thậm chí toàn bộ xương cốt trong người cứ như bị bó chặt, đau tựa kim châm, như bị dao cứa…Phong thấp chính là bệnh viêm khớp xương. Triệu chứng ban đầu là khớp xương sưng đau, mà trước tiên là các khớp ngón tay và cổ tay. Sau đó, hiện tượng này chuyển dần tới khuỷu tay, mắt cá chân và các khớp khác, chẳng bao lâu sau sẽ lan dần đến hai mươi khớp xương còn lại. Đặc trưng của bệnh là các khớp sưng đau có tính chất đối xứng. Nếu thấy xuất hiện thêm triệu chứng cứng chân, cứng tay vào sáng sớm khi ngủ dậy có nghĩa là bệnh đã chuyển thành mạn tính.
- Triệu chứng của bệnh phong thấp rất dễ lẫn với một số bệnh xương khớp khác như chứng khớp xương biến dạng, hiện tượng xương và khớp bị lão hóa. Vì vậy, trong thực tế, đã có những người bị chẩn đoán mắc chứng phong thấp, nhưng khi khám kỹ ở chuyên khoa thì hóa ra lại bị khớp xương lão hóa, biến dạng.
- Về điều trị, loại hoóc môn do vỏ bên ngoài tuyến thượng thận tiết ra rất công hiệu với bệnh. Tuy nhiên, ngoài những tình huống đặc biệt, không nên sử dụng vì hoóc môn này làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với vi khuẩn và gây những phản ứng phụ khó lường. Nhưng dù dùng loại thuốc nào, người bệnh đều phải nghiêm ngặt tuân theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Ngoài việc dùng thuốc, có thể áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như: dùng sóng cực ngắn, tắm hơi (xông hơi), tắm nước nóng, châm cứu, tắm nắng…
Điều tối quan trọng trong việc điều trị bệnh phong thấp là chuẩn bị tâm lý chữa bệnh.
- Đây là thứ bệnh chưa rõ nguyên nhân và chưa có phương sách gì điều trị dứt điểm. Vì vậy, cần chuẩn bị tư tưởng và có kế hoạch để “chiến đấu” lâu dài
Biểu hiện bệnh này như thế nào?1. Viêm khớp: là biểu hiện thường gặp nhất, có ở 75% các bệnh nhân phong thấp ở giai đoạn cấp tính. Viêm khớp thường xảy ra sau 1-2 tuần bị viêm họng với sốt, đau họng, nuốt đau, họng bị đỏ, sần sùi, 2 amidan to, đỏ nhưng có khi không có viêm họng đi trước.
II.                DI CHỨNG CỦA BỆNH PHONG THẤP
1. Viêm khớp:  biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Thường là viêm nhiều khớp; khớp lớn: khớp gối, khuỷu, vai, cổ tay, cổ chân; di chuyển từ khớp này qua khớp khác rất nhanh, đôi khi có tràn dịch với nước trong, nhưng không bao giờ hóa mủ, tự khỏi sau 5-15 ngày, không để lại di chứng, không biến dạng khớp, không cứng khớp, không teo cơ, không giới hạn cử động kéo dài, chỉ trừ lúc khớp đang viêm, bệnh nhân có thể không đi được do đau trong vài ngày rồi tự lành dù không điều trị.

2. Viêm tim: là biểu hiện nặng nhất ở trẻ em, có thể gây tử vong nếu nặng và thường để lại di chứng tạo thành các bệnh van tim hậu thấp.
Viêm tim từng xảy ra trong đợt thấp lần đầu hay lần thứ hai, có thể xuất hiện một mình hoặc kèm theo các triệu chứng khác ở khớp, da, thần kinh. Thấp tim đợt cấp có thể gây Viêm nội tâm mạc, cơ tim, màng ngoài tim hay cả 3 lớp cùng một lúc.
- Ðể có ý niệm về tiên lượng, có thể chia ra ở các mức độ:
. Viêm tim nhẹ
. Viêm tim trung bình
. Viêm tim nặng

3. Múa vờn: xảy ra ở khoảng 10-15% các bệnh nhân bị thấp. Múa vờn có thể là một triệu chứng đơn độc của phong thấp hoặc có thể phối hợp với nhiều triệu chứng khác.Ðây là biểu hiện của thần kinh trung ương, thường xảy ra chậm 2 – 6 tháng sau khi bị viêm họng, khi đó các triệu chứng khác của phong thấp đã hết. Bệnh bắt đầu từ từ, trẻ đang bình thường, bắt đầu có những động tác vụng về như cầm đồ vật hay bị rớt, viết chữ xấu đi, không thẳng nét; trẻ trở nên ngớ ngẩn, học kém hơn bình thường.
- Ðến giai đoạn toàn phát, trẻ hay hốt hoảng, lo lắng, nói năng khó khăn, nói không thành câu, viết khó, chữ viết xiêu vẹo, không ngay hàng, vẽ khó, làm những động tác khéo léo bằng tay khó khăn, đi đứng loạng choạng muốn ngã, nghiến răng, sức cơ trở nên yếu rồi không đi được.
- Khi bệnh nặng, trẻ có những động tác bất thường, tay chân múa may, quờ quạng. Hai tay không giữ yên được, luôn luôn có những động tác bất thường, không chính xác, biên độ rộng, không nhịp nhàng. Các cơ hay bị tổn thương nhất là ở mặt và 2 tay. Múa vờn thường được khởi phát bởi xúc động về tâm lý, tăng mạnh bởi các kích thích từ bên ngoài, gắng sức, mệt mỏi và lắng dịu khi trẻ ngủ. Múa vờn thường kéo dài cả mấy tuần, mấy tháng, có khi cả năm nhưng không để lại di chứng.

4. Nốt cục dưới da: là những hạt tròn, cứng, di động, không đau, sờ được ở những xương nhô ra và có da mỏng như khủy tay, cổ tay, cổ chân, bàn chân, da đầu vùng chẩm, xương bả vai, gai xương chậu, xương sống xuất hiện trong vài ngày hoặc vài tuần rồi hết, không để lại di chứng. Ngày nay, các nốt cục dưới da này ít gặp, chỉ thấy ở khoảng 1% số bệnh nhân phong thấp.

5. Hồng ban vòng: là triệu chứng ngoài da điển hình của phong thấp nhưng cũng hiếm gặp khoảng dưới 5%. Ðó là các đốm màu hồng, ở giữa nhạt màu hơn, có bờ tròn xung quanh, thường thấy ở ngực, gốc tứ chi, không có ở mặt và niêm mạc. Hồng ban thường di chuyển, không ngứa và thường để lại di chứng.Như vậy người trẻ tuổi cũng có thể bị phong thấp không phải là hiếm và bạn nên chú ý những thay đổi bất thường của cơ thể để chăm sóc bản thân được tốt hơn

III.             TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH PHONG THẤP ?
-  Khi bị bệnh phong thấp triệu chứng dễ nhận thấy của bệnh đó là cảm thấy cứng ở các đầu khớp xương và ảnh hưởng nhiều nhất đó là các khớp xương tay, đầu gối, vai, xương chậu, đặc biệt nhất là trên xương sống. Khi chúng ta vận động cảm thấy đau ở các khớp xương này, có khi bị sưng, nắn xung quanh các khớp xương sẽ cảm thấy đau và cử động các khớp xương bị hạn chế có khi phát ra tiếng kêu răng rắc bên trong

 - Các khớp xương đau nhức và sưng lên, nhất là các khớp xương nhỏ của bàn chân và bàn tay
-  Buổi sáng sau khi ngủ dậy hoặc sau một thời gian nghỉ ngơi cảm cảm thấy đau nhức hoặc cứng toàn thể những khớp xương và bắp thịt
-  Triệu chứng bệnh phong thấp làm rối loạn tự miễn dịch có thể gây khô mắt, mũi, miệng và cổ họng hoặc có thể khô da do bị viêm tuyến tiết dịch làm ẩm
 -  Xuất hiện nốt dưới da  những cục u cứng nằm dưới da gần chỗ khớp bị đau, những cục u này thường xuất hiện phía sau khuỷu tay và đôi khi xuất hiện cả trong mắt
-  triệu chứng phổ biến nhất của viêmkhớp thấp là đau nhức ở các khớp. Khi bị đau khớp, mọi người thường nghĩ do vận động quá sức hoặc viêm xương khớp 
-  Đăc biệt phong thấp có thể gây viêm các tuyến nước bọt, nước mắt, màng phổi, tim và ngay cả các mạch máu.
IV.             NGUYÊN NHÂN NÀO GÂY RA BỆNH PHONG THẤP ?
- Do các màng lót các khớp xương bị sưng lên khiến tiết ra một chất đạm làm màng này càng ngày càng dày lên, chất đạm này cũng phá hủy dần lớp xương, sụn, gân và những dây chằng nơi khớp. qua thời gian dần dần khiến những khớp xương bị dị dạng méo mó dẫn đến có thể bị phá hủy
- Những nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng điều khiến các màng lót bị sưng lên là do nhiễm trùng, một số người có những gien di truyền khiến họ dễ bị nhiễm trùng và yếu tố khác như tuổi già, phái nữ, hút thuốc lá..

V.                PHƯƠNG PHÁP CHỮA BỆNH: 
+ Dùng phương pháp lọc máu lấy bớt những kháng thể làm viêm và đau khớp
+ Khi khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều có thể giải phẫu thay khớp để có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau
+ Hiện nay để điều trị bệnh phong thấp ta có thể áp dụng bằng phương pháp đông y, bạn có thể tham khảo các bàithuốc dân gian hoặc những bài thuốc cổ chữa bệnh phong thấp cũng khá tốt và bạn có thể tham khảo các bài thuốc sau đây : 

- Thể phong thấp
+ Triệu chứng: Các khớp và thân thể đau nhức, đau thường chạy từ khớp này sang khớp kia, các khớp khó cử động, cơ thể phát sốt, toàn thân mệt mỏi, thích nằm, mạch phù. Bài 1: Rễ xấu hổ 16g, thiên niên kiện 10g, vòi voi 16g, huyết đằng 16g, thổ linh 20g, độc hoạt 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Hy thiêm 16g, cỏ xước 16g, rễ bưởi bung, kinh giới 16g, phòng phong 12g, thương nhĩ 16g, tang ký sinh 16g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một thang.
- Thể hàn thấp
+ Triệu chứng: Đau ở một khớp hoặc nhiều khớp, đau cố định, không chạy như phong thấp. Càng lạnh càng đau. Đau nhiều về đêm. Các khớp khó co duỗi. Chân tay lạnh, da lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn, đại tiện thường lỏng. Bài 1: Thương nhĩ tử (sao) 16g, thiên niên kiện 10g, rễ cỏ xước 16g, rễ cà gai leo 16g, rễ tất bát 12g, nam tục đoạn 16g, ngải diệp (sao) 16g, quế chi 10g, trần bì 10g, thổ phục linh 20g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Nam tục đoạn 16g, kinh giới 16g, kê huyết đằng 16g, độc hoạt 12g, cỏ xước 16g, thủ ô chế 16g, bưởi bung 16g, ngũ gia bì 16g, quế 10g, thiên niên kiện 10g, xuyên khung 12g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày một thang (uống khi nước thuốc còn nóng).
- Thể tê thấp
+ Triệu chứng: Đau nhức nặng nề, da thịt tê bì, đi lại chậm chạp khó khăn, đau dai dẳng, nhận biết cảm giác bị giảm. Nếu bệnh nặng có thể bị tê liệt một bên cơ thể. Trường hợp này mạch nhu hoãn. Cách chữa: Khu phong tán hàn, trừ thấp. Bài 1: Tang ký sinh 16g, phòng phong 12g, kinh giới 16g, tất bát 12g, huyết đằng 16g, tế tân 6g, thiên niên kiện 10g, ngũ gia bì 16g, xuyên khung 12g, độc hoạt 12g, hà thủ ô (chế) 16g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày một thang. Bài 2: Bài thuốc chườm: Ngải diệp và lá cúc tần, mỗi thứ một nắm sao rượu, khi còn đang nóng chườm vào nơi đau. Công dụng: giảm đau, chống viêm, thông kinh hoạt lạc, phục hồi chức năng sinh lý cho xương khớp. Chú ý: Bệnh nhân cần nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý; chống lạnh, tránh nơi ẩm thấp, luôn luyện tập và kết hợp xoa bóp để chống xơ cứng.
VI. SỰ CẤM KỴ TRONG KHI DÙNG THUỐC

6.1. Những vị thuốc cấm kỵ khi có thai

a. Loại cấm dùng: Ba đậu (tả hạ), Khiên ngưu, Đại kích, Thương lục (trục thuỷ): Tam thất (hoạt huyết); Sạ hương (phá khí); Nga truật, Thuỷ diệt, Manh trùng (phá huyết). Các vị thuốc trên có tác dụng trục thuỷ, tả hạ, phá khí, phá huyết.

b. Loại dùng thận trọng: Đào nhân, Hồng hoa (hoạt huyết); Bán hạ, Đại hoàng (tả hạ): Chỉ thực (phá khí); Phụ tử, Can khương, Nhục quế (đại nhiệt). Các vị thuốc trên có tác dụng phá khí, tả hạ, hoạt huyết, đại nhiệt.

6.2. Các vị thuốc tương phản lẫn nhau

- Cam thảo chống: Cam toại, Nguyên hoa, Hải tảo

- Ô dầu phản: Bối mẫu, Bán hạ, Bạch cập, Bạch liễm.

- Lê lô phản: các loại Sâm, Tế tân, Bạch thược

6.3. Cấm kỵ trong khu uống thuốc

Cam thảo, Hoàng liên, Cát cánh, Ô mai kiêng ăn thịt lợn: Bạc hà kiêng Ba ba; Phục linh kiêng gấm.

Khi ăn uống chú ý không nên dùng các thức ăn chống lại tác dụng của thuốc.

Thí dụ: dùng thuốc ôn trung trừ hàn (nóng ấm) không ăn các đồ ăn lạnh; dùng các thuốc kiện tỳ, tiêu đạo không nên ăn chất béo, chất khó tiêm dùng thuốc an thần không nên ăn chất kích thích

- Nếu các bạn chưa hiểu về các bài thuốc cũng như cách áp dụng bài thuốc trên liên hệ các chuyên gia của Công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo. Đường dây nóng: 0935141438-Mr Tâm để được tư vấn và cắt thuốc chữa bệnh phong thấp và chữa viêm amidan hiệu quả nhất .