Hiển thị các bài đăng có nhãn vitamin B6. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vitamin B6. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Tác dụng của vitamin B6

http://www.benhvienthongminh.com
SKĐS - Khi bị thiếu vitamin B6, có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu nguyên bào sắt, viêm dây thần kinh ngoại vi, viêm da tăng bã nhờn, và tình trạng khô nứt môi.
Khi bị thiếu vitamin B6, có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu nguyên bào sắt, viêm dây thần kinh ngoại vi, viêm da tăng bã nhờn, và tình trạng khô nứt môi. Vì vậy, khi bị thiếu hụt do dinh dưỡng, hoặc nhu cầu cơ thể tăng, cần bổ sung thêm vitamin B6.
Vitamin B6 (pyridoxine) là một loại vitamin nhóm B. Tuy chỉ cần một lượng nhỏ, nhưng lại rất quan trọng đối với cơ thể. Ở trẻ em, nhu cầu hàng ngày khoảng 0,3 - 2mg, người lớn từ 1,6 - 2mg và người mang thai hoặc cho con bú là 2,1 - 2,2mg. Nếu chế độ ăn uống hàng ngày đầy đủ thì hiếm gặp tình trạng thiếu hụt vitamin B6, nhưng có thể xảy ra trong trường hợp rối loạn hấp thu, rối loạn chuyển hóa bẩm sinh hoặc rối loạn do thuốc gây nên (dùng thuốc chống lao isoniazid hoặc uống thuốc tránh 
thai…).

Các loại đậu, trứng, cá... giàu vitamin B6.
Với các trường hợp sau đây: nghiện rượu, bị bỏng, suy tim sung huyết, sốt kéo dài, cắt bỏ dạ dày, lọc máu, cường tuyến giáp, nhiễm khuẩn, bệnh đường ruột (như tiêu chảy, viêm ruột), kém hấp thu liên quan đến bệnh về gan - mật cần phải bổ sung vitamin B6.
Đối với người mang thai, người cho con bú có nhu cầu tăng về mọi vitamin, nên bổ sung các vitamin bằng chế độ ăn. Tuy nhiên, nhiều thầy thuốc vẫn khuyên dùng thêm hỗn hợp các vitamin (trong đó có vitamin B6) và muối khoáng, nhất là với người mang thai kém ăn hoặc có nguy cơ thiếu hụt cao (đa thai, nghiện hút thuốc lá, rượu, ma túy). Nhưng cần dùng theo chỉ định của bác sĩ, vì nếu dùng với lượng quá thừa hỗn hợp các vitamin và muối khoáng có thể lại gây hại cho cả mẹ và thai nhi.

Vitamin B6 còn được dùng điều trị nhiễm độc isoniazid. Một số trẻ sơ sinh biểu hiện hội chứng lệ thuộc pyridoxin (vitamin B6) có tính di truyền. Nguyên nhân chưa được biết rõ nhưng trẻ có dấu hiệu quấy khóc nhiều và có cơn run giật kiểu động kinh. Trong trường hợp này, dùng vitamin B6 trong tuần đầu sau đẻ để phòng thiếu máu và chậm phát triển ở trẻ.
Cần lưu ý, các tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra như buồn nôn, nôn (ít gặp). Khi dùng liều cao (200 mg/ngày) và dài ngày (trên 2 tháng) có thể gây bệnh thần kinh ngoại vi nặng, tiến triển từ dáng đi không vững và tê cóng bàn chân đến tê cóng và vụng về bàn tay. Tình trạng này có thể hồi phục khi ngừng thuốc, nhưng ít nhiều vẫn để lại di chứng. Vì vậy, trong những trường hợp này cần có sự theo dõi của bác sĩ và người bệnh cần biết để phát hiện những triệu chứng trên, kịp thời thông báo cho bác sĩ biết để được xử trí thích hợp.
Dưới đây là liều lượng khuyến cáo mỗi ngày:

Nam, nữ (19-50 tuổi): 1,3 mg

Nam (51 tuổi): 1,7 mg

Nữ (51 tuổi): 1,5 mg

Phụ nữ đang mang thai: 1,9 mg

Phụ nữ đang cho con bú: 2,0 mg

Trẻ sơ sinh (0-6 tháng): 0,1 mg

Trẻ sơ sinh (7-12 tháng): 0,3 mg

Trẻ em (1-3 tuổi): 0,5 mg - không vượt quá 30 mg

Trẻ em (4-8 tuổi): 0,6 mg - không vượt quá 40 mg

Trẻ em (9-13 tuổi): 1 mg - không vượt quá 60 mg

Nam (14-18 tuổi) :1 mg - không vượt quá 80 mg

Nữ (14-18 tuổi): 1,2 mg - không vượt quá 80 mg (ngay cả khi mang thai hoặc cho con bú).

Cũng theo khuyến cáo, chúng ta nên ưu tiên bổ sung vitamin B6 từ các loại thực phẩm. Những thực phẩm giàu vitamin B6, bao gồm: chuối, đậu đỏ, khoai tây, ngũ cốc nguyên hạt, cá, thịt gia cầm, thịt bò nạc, pho mát, súp lơ, cà rốt, cải bắp, rau bina, đậu nành, đậu phộng, trứng…

Để nhận được lợi ích vitamin B6 tốt nhất, sản phẩm hoa quả, thịt tươi sống cần bảo quản ở nhiệt độ lạnh; sữa và ngũ cốc nên để nơi thoáng mát, khô ráo, không ẩm ướt và tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.

Dược sĩ Nguyễn Thị An



Thận trọng với vitamin nhóm B

http://www.benhvienthongminh.com

Thận trọng với vitamin nhóm B

Lạm dụng vitamin có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe


Như chúng ta đều biết, vitamin rất quan trọng đối với đời sống và sức khỏe con người. Chúng không những có vai trò duy trì cuộc sống mà còn có tác dụng ngăn ngừa và phòng bệnh.

Vitamin, hay còn gọi là sinh tố, là phân tử hữu cơ cần thiết cho mọi hoạt động chuyển hóa bình thường của cơ thể. Có nhiều loại vitamin và chúng cũng khác nhau về bản chất hóa học lẫn tác dụng sinh lý. Do là thuốc nên việc sử dụng vitamin cần phải đúng, đủ liều và tuyệt đối không được lạm dụng vì khi lạm dụng có khả năng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe. Dưới đây, xin dẫn một số loại thường dùng:

Vitamin B1 (còn gọi là thiamin): Là vitamin tham gia vào nhiều phản ứng chuyển hóa, đặc biệt là chuyển hóa glucid (đường, bột). Đối với vitamin B1, nhu cầu hằng ngày khoảng 1,5 mg. Nhu cầu vitamin B1 cần đáp ứng cho cơ thể con người phải đạt 0,4 mg/1.000 kcal; khi lượng này thấp hơn 0,25 mg/1.000 kcal sẽ gây nên bệnh tê phù. Là loại vitamin lành nhưng cũng có trường hợp gây phản ứng tuy ít gặp. Ngoài gây sốc phản vệ khi tiêm, dùng vitamin B1 có thể bị các tác dụng phụ như tăng huyết áp cấp, ngứa, nổi mề đay, khó thở, kích thích tại chỗ tiêm.

Khi thừa vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ - Ảnh: Hồng Thú Y

Vitamin B2: Nhu cầu vitamin B2 mỗi ngày cho cơ thể tùy thuộc giới tính, lứa tuổi. Ví dụ, trẻ sơ sinh đến 6 tháng tuổi là 0,4 mg, 6 - 12 tháng: 0,5 mg, 4 - 6 tuổi: 1,1 mg, 15 - 18 tuổi: 1,8 mg, 19 - 50 tuổi: 1,7 mg, từ 51 tuổi trở đi chỉ cần 1,2 mg/ngày. Nam giới cần 1,6 mg, nữ giới 1,2 mg/ngày. Vitamin B2 không độc nhưng khi dùng liều cao thì nước tiểu sẽ chuyển màu vàng nhạt, gây sai lệch đối với một số xét nghiệm nước tiểu trong phòng thí nghiệm.

Vitamin B3 (còn gọi là vitamin PP): Có thành phần hoạt chất là axít nicotinic hoặc nicotinamide; là loại vitamin không được dự trữ và rất ít khi được tạo ra bởi quá trình tổng hợp chất. Do đó, nó phải được hấp thụ thông qua chế độ ăn uống hằng ngày. Vitamin B3 giúp giảm lượng cholesterol, giúp ích cho quá trình tuần hoàn máu và hình thành hệ thần kinh. Nó cũng can thiệp vào quá trình tổng hợp các hormone giới tính. Bằng cách kích thích sự tổng hợp chất sừng, vitamin B3 tham gia cải thiện vẻ đẹp làn da và mái tóc. Nhu cầu vitamin B3 hằng ngày của người trưởng thành là từ 15 - 18 mg. Cũng như những vitamin khác của nhóm B, nó sẽ được nạp vào cơ thể vận động viên với liều lượng cao hơn. Người nghiện rượu cũng cần nạp một lượng vitamin B3 cao hơn trung bình. Tuy nhiên, vitamin B3 có thể tạo ra cơn bốc hỏa, buồn nôn, đánh trống ngực xuất hiện khi dùng thuốc và tự hết sau 30 - 40 phút.

Vitamin B6: Hòa tan trong nước, chịu nhiệt nhưng bị tia tử ngoại, sự ôxy hóa phân hủy. Vitamin B6 giúp duy trì các chức năng bình thường của não bộ, giúp tạo hồng huyết cầu, kháng thể, estrogen (hormone nữ). Vitamin B6 còn điều hòa sự sản xuất hóa chất ở não bộ, kiểm soát tình trạng ngủ nghỉ, cảm xúc. Vitamin B6 cũng được dùng để chữa các trường hợp thiếu máu, không đáp ứng với khoáng chất sắt.
Mỗi ngày trung bình nên tiêu thụ khoảng 2 mg vitamin B6. Người già và phụ nữ có thai hoặc đang dùng viên uống tránh thai có nhu cầu cao hơn. Ngoài ra, nhu cầu cũng tăng theo tỉ lệ thuận với thành phần chất đạm trong bữa ăn.
Tuy nhiên, khi thừa vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ. Liều cao vitamin B6 (trên 10 g/ngày) có thể làm cho gan tạo ra các men bất thường.

Vitamin B12: Điều hòa chuyển hóa đạm, tăng cường tạo hồng cầu, làm hạ tỉ lệ cholesterol. Ngoài ra, vitamin này còn có tác dụng chống dị ứng, giảm đau. Thiếu vitamin B12 và axít folic làm tổn thương đến sự tổng hợp axít nucleic, ảnh hưởng tới chức phận tạo máu và hệ thần kinh. Tuy nhiên, lạm dụng vitamin B12 có thể gây tăng sản tuyến giáp, làm tăng hồng cầu quá mức, bệnh cơ tim...; có khi xảy ra tác dụng thứ phát gây nôn nao, choáng váng, nổi mề đay. Liều trung bình là từ 100 - 500 mcg/ngày. Sử dụng liều cao cần có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Một số thuốc tránh dùng với vitamin B3

Vitamin B3 là thuốc gây giãn mạch, do đó thường gây ra hiện tượng đỏ bừng mặt và hạ huyết áp. Vì vậy, tránh phối hợp vitamin B3 với thuốc điều trị cao huyết áp vì có thể gây hạ huyết áp quá mức. Nên tránh kết hợp vitamin B3 với các thuốc chống đông máu vì nó làm tăng tác dụng của thuốc, gia tăng nguy cơ gây chảy máu. Cũng tránh dùng vitamin B3 với thuốc kháng sinh tetracyclin bởi loại vitamin này làm giảm sự hấp thu và hiệu quả của thuốc.
Kết luận: Hiện nay benhvienthongminh.com đang phân phối 1 loại vitamin tổng hợp và khoáng chất đầy đủ cho cơ thể gồm 36 loại, đây là loại vitamin tốt nhất và cân bằng hàng ngày cho cơ thể, nam nữ hay già trẻ đều cần dùng. Hãy liên hệ benhvienthongminh.com để được tư vấn và giao hàng miễn phí. Ngoài ra đến với chúng tôi bạn còn được kiểm tra vitamin và khoáng chất miễn phí khi mua sản phẩm.


Theo BS Hoàng Xuân Đại - Người lao động

Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Thận trọng với vitamin nhóm B

http://www.benhvienthongminh.com

Thận trọng với vitamin nhóm B

Lạm dụng vitamin có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe


Như chúng ta đều biết, vitamin rất quan trọng đối với đời sống và sức khỏe con người. Chúng không những có vai trò duy trì cuộc sống mà còn có tác dụng ngăn ngừa và phòng bệnh.

Vitamin, hay còn gọi là sinh tố, là phân tử hữu cơ cần thiết cho mọi hoạt động chuyển hóa bình thường của cơ thể. Có nhiều loại vitamin và chúng cũng khác nhau về bản chất hóa học lẫn tác dụng sinh lý. Do là thuốc nên việc sử dụng vitamin cần phải đúng, đủ liều và tuyệt đối không được lạm dụng vì khi lạm dụng có khả năng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe. Dưới đây, xin dẫn một số loại thường dùng:

Vitamin B1 (còn gọi là thiamin): Là vitamin tham gia vào nhiều phản ứng chuyển hóa, đặc biệt là chuyển hóa glucid (đường, bột). Đối với vitamin B1, nhu cầu hằng ngày khoảng 1,5 mg. Nhu cầu vitamin B1 cần đáp ứng cho cơ thể con người phải đạt 0,4 mg/1.000 kcal; khi lượng này thấp hơn 0,25 mg/1.000 kcal sẽ gây nên bệnh tê phù. Là loại vitamin lành nhưng cũng có trường hợp gây phản ứng tuy ít gặp. Ngoài gây sốc phản vệ khi tiêm, dùng vitamin B1 có thể bị các tác dụng phụ như tăng huyết áp cấp, ngứa, nổi mề đay, khó thở, kích thích tại chỗ tiêm.

Khi thừa vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ - Ảnh: Hồng Thú Y

Vitamin B2: Nhu cầu vitamin B2 mỗi ngày cho cơ thể tùy thuộc giới tính, lứa tuổi. Ví dụ, trẻ sơ sinh đến 6 tháng tuổi là 0,4 mg, 6 - 12 tháng: 0,5 mg, 4 - 6 tuổi: 1,1 mg, 15 - 18 tuổi: 1,8 mg, 19 - 50 tuổi: 1,7 mg, từ 51 tuổi trở đi chỉ cần 1,2 mg/ngày. Nam giới cần 1,6 mg, nữ giới 1,2 mg/ngày. Vitamin B2 không độc nhưng khi dùng liều cao thì nước tiểu sẽ chuyển màu vàng nhạt, gây sai lệch đối với một số xét nghiệm nước tiểu trong phòng thí nghiệm.

Vitamin B3 (còn gọi là vitamin PP): Có thành phần hoạt chất là axít nicotinic hoặc nicotinamide; là loại vitamin không được dự trữ và rất ít khi được tạo ra bởi quá trình tổng hợp chất. Do đó, nó phải được hấp thụ thông qua chế độ ăn uống hằng ngày. Vitamin B3 giúp giảm lượng cholesterol, giúp ích cho quá trình tuần hoàn máu và hình thành hệ thần kinh. Nó cũng can thiệp vào quá trình tổng hợp các hormone giới tính. Bằng cách kích thích sự tổng hợp chất sừng, vitamin B3 tham gia cải thiện vẻ đẹp làn da và mái tóc. Nhu cầu vitamin B3 hằng ngày của người trưởng thành là từ 15 - 18 mg. Cũng như những vitamin khác của nhóm B, nó sẽ được nạp vào cơ thể vận động viên với liều lượng cao hơn. Người nghiện rượu cũng cần nạp một lượng vitamin B3 cao hơn trung bình. Tuy nhiên, vitamin B3 có thể tạo ra cơn bốc hỏa, buồn nôn, đánh trống ngực xuất hiện khi dùng thuốc và tự hết sau 30 - 40 phút.

Vitamin B6: Hòa tan trong nước, chịu nhiệt nhưng bị tia tử ngoại, sự ôxy hóa phân hủy. Vitamin B6 giúp duy trì các chức năng bình thường của não bộ, giúp tạo hồng huyết cầu, kháng thể, estrogen (hormone nữ). Vitamin B6 còn điều hòa sự sản xuất hóa chất ở não bộ, kiểm soát tình trạng ngủ nghỉ, cảm xúc. Vitamin B6 cũng được dùng để chữa các trường hợp thiếu máu, không đáp ứng với khoáng chất sắt.
Mỗi ngày trung bình nên tiêu thụ khoảng 2 mg vitamin B6. Người già và phụ nữ có thai hoặc đang dùng viên uống tránh thai có nhu cầu cao hơn. Ngoài ra, nhu cầu cũng tăng theo tỉ lệ thuận với thành phần chất đạm trong bữa ăn.
Tuy nhiên, khi thừa vitamin B6 có thể dẫn tới viêm đa dây thần kinh, giảm trí nhớ. Liều cao vitamin B6 (trên 10 g/ngày) có thể làm cho gan tạo ra các men bất thường.

Vitamin B12: Điều hòa chuyển hóa đạm, tăng cường tạo hồng cầu, làm hạ tỉ lệ cholesterol. Ngoài ra, vitamin này còn có tác dụng chống dị ứng, giảm đau. Thiếu vitamin B12 và axít folic làm tổn thương đến sự tổng hợp axít nucleic, ảnh hưởng tới chức phận tạo máu và hệ thần kinh. Tuy nhiên, lạm dụng vitamin B12 có thể gây tăng sản tuyến giáp, làm tăng hồng cầu quá mức, bệnh cơ tim...; có khi xảy ra tác dụng thứ phát gây nôn nao, choáng váng, nổi mề đay. Liều trung bình là từ 100 - 500 mcg/ngày. Sử dụng liều cao cần có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Một số thuốc tránh dùng với vitamin B3

Vitamin B3 là thuốc gây giãn mạch, do đó thường gây ra hiện tượng đỏ bừng mặt và hạ huyết áp. Vì vậy, tránh phối hợp vitamin B3 với thuốc điều trị cao huyết áp vì có thể gây hạ huyết áp quá mức. Nên tránh kết hợp vitamin B3 với các thuốc chống đông máu vì nó làm tăng tác dụng của thuốc, gia tăng nguy cơ gây chảy máu. Cũng tránh dùng vitamin B3 với thuốc kháng sinh tetracyclin bởi loại vitamin này làm giảm sự hấp thu và hiệu quả của thuốc.
Kết luận: Hiện nay benhvienthongminh.com đang phân phối 1 loại vitamin tổng hợp và khoáng chất đầy đủ cho cơ thể gồm 36 loại, đây là loại vitamin tốt nhất và cân bằng hàng ngày cho cơ thể, nam nữ hay già trẻ đều cần dùng. Hãy liên hệ benhvienthongminh.com để được tư vấn và giao hàng miễn phí. Ngoài ra đến với chúng tôi bạn còn được kiểm tra vitamin và khoáng chất miễn phí khi mua sản phẩm.


Theo BS Hoàng Xuân Đại - Người lao động

Tác dụng của vitamin B6

http://www.benhvienthongminh.com
SKĐS - Khi bị thiếu vitamin B6, có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu nguyên bào sắt, viêm dây thần kinh ngoại vi, viêm da tăng bã nhờn, và tình trạng khô nứt môi.
Khi bị thiếu vitamin B6, có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu nguyên bào sắt, viêm dây thần kinh ngoại vi, viêm da tăng bã nhờn, và tình trạng khô nứt môi. Vì vậy, khi bị thiếu hụt do dinh dưỡng, hoặc nhu cầu cơ thể tăng, cần bổ sung thêm vitamin B6.
Vitamin B6 (pyridoxine) là một loại vitamin nhóm B. Tuy chỉ cần một lượng nhỏ, nhưng lại rất quan trọng đối với cơ thể. Ở trẻ em, nhu cầu hàng ngày khoảng 0,3 - 2mg, người lớn từ 1,6 - 2mg và người mang thai hoặc cho con bú là 2,1 - 2,2mg. Nếu chế độ ăn uống hàng ngày đầy đủ thì hiếm gặp tình trạng thiếu hụt vitamin B6, nhưng có thể xảy ra trong trường hợp rối loạn hấp thu, rối loạn chuyển hóa bẩm sinh hoặc rối loạn do thuốc gây nên (dùng thuốc chống lao isoniazid hoặc uống thuốc tránh 
thai…).

Các loại đậu, trứng, cá... giàu vitamin B6.
Với các trường hợp sau đây: nghiện rượu, bị bỏng, suy tim sung huyết, sốt kéo dài, cắt bỏ dạ dày, lọc máu, cường tuyến giáp, nhiễm khuẩn, bệnh đường ruột (như tiêu chảy, viêm ruột), kém hấp thu liên quan đến bệnh về gan - mật cần phải bổ sung vitamin B6.
Đối với người mang thai, người cho con bú có nhu cầu tăng về mọi vitamin, nên bổ sung các vitamin bằng chế độ ăn. Tuy nhiên, nhiều thầy thuốc vẫn khuyên dùng thêm hỗn hợp các vitamin (trong đó có vitamin B6) và muối khoáng, nhất là với người mang thai kém ăn hoặc có nguy cơ thiếu hụt cao (đa thai, nghiện hút thuốc lá, rượu, ma túy). Nhưng cần dùng theo chỉ định của bác sĩ, vì nếu dùng với lượng quá thừa hỗn hợp các vitamin và muối khoáng có thể lại gây hại cho cả mẹ và thai nhi.

Vitamin B6 còn được dùng điều trị nhiễm độc isoniazid. Một số trẻ sơ sinh biểu hiện hội chứng lệ thuộc pyridoxin (vitamin B6) có tính di truyền. Nguyên nhân chưa được biết rõ nhưng trẻ có dấu hiệu quấy khóc nhiều và có cơn run giật kiểu động kinh. Trong trường hợp này, dùng vitamin B6 trong tuần đầu sau đẻ để phòng thiếu máu và chậm phát triển ở trẻ.
Cần lưu ý, các tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra như buồn nôn, nôn (ít gặp). Khi dùng liều cao (200 mg/ngày) và dài ngày (trên 2 tháng) có thể gây bệnh thần kinh ngoại vi nặng, tiến triển từ dáng đi không vững và tê cóng bàn chân đến tê cóng và vụng về bàn tay. Tình trạng này có thể hồi phục khi ngừng thuốc, nhưng ít nhiều vẫn để lại di chứng. Vì vậy, trong những trường hợp này cần có sự theo dõi của bác sĩ và người bệnh cần biết để phát hiện những triệu chứng trên, kịp thời thông báo cho bác sĩ biết để được xử trí thích hợp.
Dưới đây là liều lượng khuyến cáo mỗi ngày:

Nam, nữ (19-50 tuổi): 1,3 mg

Nam (51 tuổi): 1,7 mg

Nữ (51 tuổi): 1,5 mg

Phụ nữ đang mang thai: 1,9 mg

Phụ nữ đang cho con bú: 2,0 mg

Trẻ sơ sinh (0-6 tháng): 0,1 mg

Trẻ sơ sinh (7-12 tháng): 0,3 mg

Trẻ em (1-3 tuổi): 0,5 mg - không vượt quá 30 mg

Trẻ em (4-8 tuổi): 0,6 mg - không vượt quá 40 mg

Trẻ em (9-13 tuổi): 1 mg - không vượt quá 60 mg

Nam (14-18 tuổi) :1 mg - không vượt quá 80 mg

Nữ (14-18 tuổi): 1,2 mg - không vượt quá 80 mg (ngay cả khi mang thai hoặc cho con bú).

Cũng theo khuyến cáo, chúng ta nên ưu tiên bổ sung vitamin B6 từ các loại thực phẩm. Những thực phẩm giàu vitamin B6, bao gồm: chuối, đậu đỏ, khoai tây, ngũ cốc nguyên hạt, cá, thịt gia cầm, thịt bò nạc, pho mát, súp lơ, cà rốt, cải bắp, rau bina, đậu nành, đậu phộng, trứng…

Để nhận được lợi ích vitamin B6 tốt nhất, sản phẩm hoa quả, thịt tươi sống cần bảo quản ở nhiệt độ lạnh; sữa và ngũ cốc nên để nơi thoáng mát, khô ráo, không ẩm ướt và tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.

Dược sĩ Nguyễn Thị An