Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

7 nguyên nhân bệnh trĩ và phương pháp trị bệnh an toàn

http://www.benhvienthongminh.com

7 NGUYÊN NHÂN BỆNH TRĨ VÀ HƯỚNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN NHẤT HIỆN NAY

Trĩ là một căn bệnh gây nhiều đau đớn và ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của những ai không may mắc phải. Người bệnh sẽ không muốn tham gia vào các hoạt xã hội, sinh hoạt thường ngày, giảm sự tự tin, giảm ham muốn tình dục và dễ trở nên cáu kỉnh.
Một số hình ảnh khi bệnh trĩ tái phát lòi ra ngoài

Bệnh trĩ có thể được gây ra bởi rất nhiều yếu tố khác nhau nhưng sau đây là 7 nhân tố phổ biến nhất và phương pháp để bạn tránh chúng:
1. Tắm gội không thường xuyên
Chất thải cần phải được loại bỏ khỏi cơ thể chúng ta hàng ngày. Khi chúng ta không thường xuyên tắm cơ thể của chúng ta có thể bị táo bón và dẫn đến bệnh trĩ. Thiết lập một thời gian yên tĩnh thường xuyên mỗi ngày để thư giãn, bước vào phòng tắm, tận hưởng nhưng giây phút sảng khoái và không quá chăm chú vào bất cứ công việc gì mà quên... tắm.
2. Quá cố gắng khi bị táo bón
Khi chúng ta bị táo bón, chúng ta thường xuyên cố gắng làm sao để đẩy được phân ra khỏi cơ thể. Nếu bạn đang bị táo bón thì đừng quá căng thẳng, thay vào đó hãy đứng dậy và đi bộ. Thường xuyên di chuyển thêm vào một ít sẽ giúp cho ruột của bạn di chuyển tốt hơn.
3. Chế độ ăn uống không phù hợp
Khẩu phần ăn của mỗi người đều cần phải có đủ lượng chất xơ cần thiết. Chất xơ có thể thu nạp thông qua có trái cây và rau xanh, ngũ cốc nguyên cám, các loại đậu, đỗ... Dinh dưỡng hợp lý hàng ngày là một trong những cách tốt nhất để duy trì một cơ thể khỏe mạnh và tránh được bệnh trĩ.
4. Mất nước
Nếu bạn không uống đủ 2 lít nước mỗi ngày, nguy cơ bị bệnh trĩ cũng tăng cao. Hãy cố gắng uống đủ nước kể cả trong những khi thời tiết mát.
5. Mang thai và sinh con
Áp lực lên bụng được tăng lên trong khi mang thai làm tăng áp lực lên các tĩnh mạch hậu môn, và những cố gắng trong khi sinh con cũng gây nhiều áp lực, sức căng lên các tĩnh mạch này. Hầu hết các trường hợp bệnh trĩ xảy ra trong giai đoạn mang thai sẽ tự khỏi sau khi sinh con.
6. Thiếu tập luyện
Một lối sống ngồi nhiều, ít vận động có thể làm cho bạn dễ bị bệnh trĩ. Ngoài ra, ngồi nhiều sẽ gây nhiều áp lực lên vùng trực tràng.
7. Căng thẳng
Căng thẳng tinh thần quá mức chắc chắn sẽ gây khó khăn lên tất cả các bộ phận của cơ thể, và là một nhân tố góp phần gây ra bệnh trĩ. Căng thẳng tinh thần làm tăng huyết áp, và do đó huyết áp được tăng xung quanh khu vực hậu môn, gây ra trĩ. Hãy thư giãn, giải tỏa tinh thần sau một ngày làm việc mệt mỏi, đừng bao giờ quá căng thẳng, và bạn sẽ tránh được rất nhiều bệnh tật, không chỉ bệnh trĩ.
 8. Biểu hiện của bệnh trĩ hỗn hợp
Mắc bệnh trĩ hỗn hợp có những biểu hiện bệnh như thế nào? Trĩ hỗn hợp là loại bệnh trĩ phức tạp nhất so với hai nhóm trĩ ngoại, trĩ nội. Bởi trĩ hỗn hợp có biểu hiện của cả bệnh trĩ ngoại và trĩ nội, do vậy loại trĩ gọi là trĩ hỗn hợp. Sau đây Chuyên Gia công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo sẽ giới thiệu nội dung bệnh Trĩ Hỗn Hợp có những biểu hiện như thế nào đến với bạn đọc.

 



A. Đại Tiện Ra Máu: sau khi đại tiện, xuất hiện máu tươi, thường người bệnh không cảm thấy đai, đây là biểu hiện bệnh trong thời kì đầu.

B. Sa Búi Trĩ: hiện tượng này thường xuất hiện ở giai đoạn cuối của bệnh, thường thì trước đó có biểu hiện đại tiện ra máu, sau đó mới xuất hiện biểu hiện sa búi trĩ, càng về sau kích thước búi trĩ to ra, dần dần tách hẳn ra khỏi lớp da, khi đi đại tiện búi trĩ bị sa ra ngoài hậu môn.

C. Đau: người mắc bệnh trĩ hỗn hợp khi búi trĩ sa ra ngoài có thể bị nhiễm trùng, sưng, hoại tử, sẽ có mức độ đau nhức khác nhau.

D.  Ngứa: ở giai đoạn cuối, búi trĩ sa hẳn ra ngoài, kèm theo chảy dịch ở hậu môn, dịch này kích thích lên vùng hậu môn gây ngứa ngáy khó chịu.
Phương pháp điều trị trước đây: Gây đau đớn,bất tiện trong sinh hoạt, búi trĩ tái phát thời gian sau điều trị rất cao, vì phương pháp giải phẩu này điều trị cái ngọn, không điều trị tận gốc rễ của bệnh. Cắt đi một phần cơ thể là điều mà không ai mong muốn, vì đằng sau nó rủi ro do vết thương lâu lành rất cao. Dưới đây là một số hình ảnh trị bệnh cổ điển:

Một nam thanh niên chuẩn bị phẩu thuật cắt búi trĩ
Dưới đây là hình ảnh đốt trĩ vô cùng đau đớn

9. Phương pháp chữa trị mới nhất:
-  Áp dụng đông Y cây cỏ thảo dược, bấm huyệt rất an toàn cho sức khỏe và đạt hiệu quả cao, đã có kết quả trên cơ thể hàng ngàn người. Có chứng nhận của tổ chức Y tế thế giới(WHO), Phương pháp điều trị được người tiêu dung bình chọn nằm trong top 20 sản phẩm dịch vụ được yêu thích nhất năm 2010 và năm 2011, là sản phẩm trị liệu duy nhất nằm trong top 20 này. Cam kết hoàn tiền 100% nếu không có kết quả sau 1 liệu trình điều trị . An toàn tuyệt đối, không để lại di chứng hoặc sẹo,không tái bệnh,không mất thời gian đi tái khám nhiều lần, không đau đớn và kiêng cữ khi điều trị. Để tư vấn hiệu quả trên từng cơ địa bệnh nhân, quý khách vui long liên lạc với chuyên gia để có kết quả như mong muốn: 0909855640 - 0935141438 ( Mr Tâm )


10. Điều trị bệnh trĩ tại nhà

- Hầu hết các triệu chứng bệnh trĩ cải thiện đáng kể với đơn giản, biện pháp điều trị trĩ tại nhà. Để tránh bệnh trĩ tái phát , bạn hãy thử những điều sau đây.
A. Ăn nhiều chất xơ. Thêm nhiều chất xơ vào chế độ ăn của bạn từ thức ăn, bổ sung chất xơ (như Metamucil, Citrucel, hoặc sợi Con), hoặc cả hai. Cùng với nước đầy đủ, chất xơ làm mềm phân và làm cho người bệnh đi đại tiện dễ dàng hơn, làm giảm áp lực đối với bệnh trĩ. Thực phẩm giàu chất xơ bao gồm bông cải xanh, đậu, lúa mì và cám yến mạch, các loại thực phẩm ngũ cốc nguyên hạt, và trái cây tươi. Bổ sung chất xơ giúp giảm trĩ chảy máu, viêm, và mở rộng. Họ cũng có thể làm giảm kích thích từ kích thước nhỏ, phân mà đang bị mắc kẹt xung quanh các mạch máu. Một số phụ nữ thấy rằng tăng cường chất xơ gây ra đầy hơi hoặc khí. Hãy bắt đầu từ từ, và dần dần tăng lượng của bạn để 25-30 gam chất xơ mỗi ngày. Ngoài ra, tăng lượng nước uống của bạn hằng ngày.
B. Tập thể dục. tập thể dục aerobic vừa phải , chẳng hạn như đi bộ nhanh 20-30 phút mỗi ngày, có thể giúp kích thích chức năng của ruột.
Không nhịn nén. Khi bạn cảm thấy các yêu cầu để đi vệ sinh, hãy đi vệ sinh ngay lập tức, không chờ đợi cho đến khi một thời gian thuận tiện hơn. Phân có thể tồn lưu, dẫn đến tăng áp lực và căng thẳng. Ngoài ra, cần lập một lịch trình mỗi ngày, chẳng hạn như sau bữa ăn, ngồi trên nhà vệ sinh trong một vài phút. Điều này có thể giúp bạn thiết lập một thói quen đi tiêu thường xuyên.

C. Tắm, vệ sinh bằng liệu pháp sitz. Một bồn tắm sitz là một bồn tắm nước ấm cho mông và hông (tên xuất phát từ tiếng Đức "sitzen," có nghĩa là "ngồi"). Nó có thể làm giảm ngứa, kích ứng, và co thắt cơ vòng. Bạn nên mua một chậu nhựa nhỏ phù hợp với bạn, hoặc bạn có thể ngồi trong bồn tắm thường xuyên với một chút nước ấm. Hầu hết các chuyên gia khuyên bạn nên tắm sitz 20 phút sau khi mỗi lần đi cầu và hai hoặc ba lần một ngày ngoài. Chăm sóc nhẹ nhàng vỗ nhẹ khu vực khô hậu môn sau đó, không cần chà xát hoặc lau cứng. Bạn cũng có thể sử dụng máy sấy tóc để làm khô khu vực.
D. Điều trị các cục máu đông. Khi bệnh trĩ bên ngoài tạo thành một cục máu đông, cơn đau có thể dữ dội. Nếu cục máu đông đã có mặt lâu hơn hai ngày, áp dụng phương pháp điều trị tại nhà cho các triệu chứng trong khi chờ đợi để ra đi một mình. Nếu cục máu đông là gần đây, các bệnh nhân trĩ có thể được phẫu thuật loại bỏ hoặc cục máu đông rút khỏi tĩnh mạch bằng một thủ thuật được thực hiện bởi một bác sĩ phẫu thuật.
Lời khuyên: Tốt nhất bạn nên đến Công Ty TNHH Sức Khỏ Tuyệt Hảo, gặp chuyên gia  0935141438 - Mr Tâm để được điều trị tốt nhất. Tránh những phản ứng không cần thiết khi điều trị tại nhà.




HƠN 3000 NGƯỜI KHỎI BỆNH MẤT NGỦ NHỜ LIỆU PHÁP AN DƯỢC

http://www.benhvienthongminh.com

HƠN 3000 NGƯỜI KHỎI BỆNH MẤT NGỦ NHỜ LIỆU PHÁP AN DƯỢC

Bệnh mất ngủ hay khó ngủ là chứng bệnh gây khó khăn trong đời sống rất nhiều người bệnh. Chữa triệt để bệnh khó ngủ từ liệu pháp an toàn đang là mong đợi của nhiều người.
http://www.benhvienthongminh.com

HƠN 3000 NGƯỜI KHỎI BỆNH MẤT NGỦ NHỜ LIỆU PHÁP AN DƯỢC

Bệnh mất ngủ hay khó ngủ là chứng bệnh gây khó khăn trong đời sống rất nhiều người bệnh. Chữa triệt để bệnh khó ngủ từ liệu pháp an toàn đang là mong đợi của nhiều người.
1. Triệu chứng thường gặp của bệnh khó ngủ
Khó ngủ có nhiều dạng, khó đi vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được, hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong khi ngủ, mỗi lần dài hơn 30 phút. Nữ giời thường bị mất ngủ nhiều hơn Nam giới nhất là ở tuổi gần mãn kinh, nhưng nguyên nhân có lẽ là do những bệnh lý liên quan nhiều hơn là do thiếu hormone. Khi tuổi tác ngày càng cao thì càng dễ xảy ra chứng khó ngủ.
2. Nguyên nhân gây nên chứng bệnh mất ngủ
- Mất ngủ do các chứng sợ sệt, tâm lý căng thẳng lo âu: Do tiền bạc, gia đình, tình yêu, nghề nghiệp, chỗ ở ồn ào,vv... Nếu trạng thái này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, chứng khó ngủ có thể sẽ không thành bệnh kinh niên.
- Thói quen sinh hoạt không hợp lý gây nên bệnh khó ngủ: Ăn khuya, làm ca đêm, nghe nhạc ồn khi ngủ, chà răng trước khi ngủ…
- Do mắc chứng bệnh tâm thần.
- Bệnh tật thể chất cũng gây nên chứng khó ngủ: Các cảm giác đau, mỏi, tê bì của bệnh trạng hiện tại cũng là 1 trong những nguyên nhân gây nên khó ngủ.
- Sử dụng các chất kích thích ngay trước khi ngủ: Chè, cà phê, quen dùng thuốc ngủ, chất kích thích, chất gây nghiện…
3. Quan niệm của y học cổ truyền về chứng bệnh mất ngủ
Theo Y Học Cổ Truyền Phương Đông, nguyên nhân cơ bản nhất là do “Dương khí không giao hòa được với âm khí” nên tạng Tâm không “tàng được thần”. Sách cổ có nói “Vì âm hư nên mắt không nhắm được”. Âm ở đây là nói đến chức năng của ba tạng là Can, Tỳ, Thận.
+ Chức năng của tạng Can là “tàng huyết”, sách cổ nói “ban đêm huyết dồn về can đầy đủ thì mới dễ ngủ được” nếu chưa dồn về đủ tình trạng khó ngủ sẽ xảy ra.
+ Tỳ có chức năng “Thống huyết, nhiếp huyết” là sinh ra và quản lý huyết. Nếu Tỳ hư không thống, nhiếp huyết được gây “Huyết tán, khí loạn” dẫn đến khí huyết kém giao hòa nên khó ngủ!
+ Thận lại “sinh tuỷ, tuỷ sinh huyết”. Khi chức năng Thận suy kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc “tàng huyết” của Can. Thận suy không chủ âm, thủy được dẫn đến dương khí thượng xung nên khó ngủ!
4. Điều trị dứt điểm bệnh mất ngủ nhờ phương pháp của nhà thuốc An Dược.
Với kinh nghiệm trong nhiều năm điều trị kết hợp với kiến thức y học cổ phương nhà thuốc nam An Dược tự hào là nhà thuốc thành công trong điều trị bệnh mất ngủ dựa trên liệu pháp an toàn mà đạt hiệu quả cao. Liệu pháp An Dược gồm 2 phần:
4.1 Sử dụng thang thuốc nam trị bệnh mất ngủ
Y học cổ truyền sử dụng các loại cây cỏ từ thảo dược thiên nhiên, thông dụng hàng ngày, chi phí ít mà lành tính. Các loại cây cỏ thảo dược này có tác dụng an thần dưỡng tâm, trấn tĩnh tinh thần, bình can tiềm dương, bổ can huyết giúp tạo giấc ngủ sinh lý, điều trị dứt điểm bệnh khó ngủ, hoảng loạn, lo âu, hồi hộp...
Liệu trình điều trị: Tùy theo cơ địa của từng bệnh nhân, thời gian điều trị khỏi bệnh tối thiểu từ 20 - 30 ngày điều trị.
4.2 Sử dụng liệu pháp châm cứu trị bệnh mất ngủ
Châm cứu là việc sử dụng các kim nhỏ châm vào các huyệt đạo của cơ thể. Theo Y học cổ truyền, châm cứu dựa trên nguyên tắc khí và lực. Khí chảy qua các kinh mạch trong cơ thể được gọi là huyệt đạo. Khó ngủ là do khí huyết không thông, gây bế tắc trong các kinh mạch. Vì vậy châm cứu có tác dụng làm thông các kinh mạch, giúp cho khí huyết lưu thông được dễ dàng giúp trị triệt để bệnh mất ngủ.
Ngoài ra châm cứu còn có tác dụng tư bổ 3 tạng Can, Tỳ, Thận giúp cho:
+ Tạng Can tàng đủ huyết về đêm.
+ Tạng Tỳ nhiếp được huyết, làm huyết chảy trong lòng mạch 1 cách điều hòa, làm khí huyết giao hòa.
+ Tạng Thận được nuôi dưỡng khỏe mạnh sinh ra được tủy, giúp chủ được âm làm dương khí không thượng xung.
Thời gian điều trị: Khoảng 2 đến 3 liệu trình, mỗi liệu trình kéo dài 10 ngày, sau mỗi liệu trình bệnh nhân nghỉ 3 đến 4 ngày để cơ thể tự phục hồi và không làm tổn thương phần da và cơ bên ngoài cơ thể.
Các bạn có nhu cầu điều trị bệnh mất ngủ xin liên hệ. 0909855640 - Chuyên gia Nguyễn Lâm

1. Triệu chứng thường gặp của bệnh khó ngủ
Khó ngủ có nhiều dạng, khó đi vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được, hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong khi ngủ, mỗi lần dài hơn 30 phút. Nữ giời thường bị mất ngủ nhiều hơn Nam giới nhất là ở tuổi gần mãn kinh, nhưng nguyên nhân có lẽ là do những bệnh lý liên quan nhiều hơn là do thiếu hormone. Khi tuổi tác ngày càng cao thì càng dễ xảy ra chứng khó ngủ.
2. Nguyên nhân gây nên chứng bệnh mất ngủ
- Mất ngủ do các chứng sợ sệt, tâm lý căng thẳng lo âu: Do tiền bạc, gia đình, tình yêu, nghề nghiệp, chỗ ở ồn ào,vv... Nếu trạng thái này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, chứng khó ngủ có thể sẽ không thành bệnh kinh niên.
- Thói quen sinh hoạt không hợp lý gây nên bệnh khó ngủ: Ăn khuya, làm ca đêm, nghe nhạc ồn khi ngủ, chà răng trước khi ngủ…
- Do mắc chứng bệnh tâm thần.
- Bệnh tật thể chất cũng gây nên chứng khó ngủ: Các cảm giác đau, mỏi, tê bì của bệnh trạng hiện tại cũng là 1 trong những nguyên nhân gây nên khó ngủ.
- Sử dụng các chất kích thích ngay trước khi ngủ: Chè, cà phê, quen dùng thuốc ngủ, chất kích thích, chất gây nghiện…
3. Quan niệm của y học cổ truyền về chứng bệnh mất ngủ
Theo Y Học Cổ Truyền Phương Đông, nguyên nhân cơ bản nhất là do “Dương khí không giao hòa được với âm khí” nên tạng Tâm không “tàng được thần”. Sách cổ có nói “Vì âm hư nên mắt không nhắm được”. Âm ở đây là nói đến chức năng của ba tạng là Can, Tỳ, Thận.
+ Chức năng của tạng Can là “tàng huyết”, sách cổ nói “ban đêm huyết dồn về can đầy đủ thì mới dễ ngủ được” nếu chưa dồn về đủ tình trạng khó ngủ sẽ xảy ra.
+ Tỳ có chức năng “Thống huyết, nhiếp huyết” là sinh ra và quản lý huyết. Nếu Tỳ hư không thống, nhiếp huyết được gây “Huyết tán, khí loạn” dẫn đến khí huyết kém giao hòa nên khó ngủ!
+ Thận lại “sinh tuỷ, tuỷ sinh huyết”. Khi chức năng Thận suy kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc “tàng huyết” của Can. Thận suy không chủ âm, thủy được dẫn đến dương khí thượng xung nên khó ngủ!
4. Điều trị dứt điểm bệnh mất ngủ nhờ phương pháp của nhà thuốc An Dược.
Với kinh nghiệm trong nhiều năm điều trị kết hợp với kiến thức y học cổ phương nhà thuốc nam An Dược tự hào là nhà thuốc thành công trong điều trị bệnh mất ngủ dựa trên liệu pháp an toàn mà đạt hiệu quả cao. Liệu pháp An Dược gồm 2 phần:
4.1 Sử dụng thang thuốc nam trị bệnh mất ngủ
Y học cổ truyền sử dụng các loại cây cỏ từ thảo dược thiên nhiên, thông dụng hàng ngày, chi phí ít mà lành tính. Các loại cây cỏ thảo dược này có tác dụng an thần dưỡng tâm, trấn tĩnh tinh thần, bình can tiềm dương, bổ can huyết giúp tạo giấc ngủ sinh lý, điều trị dứt điểm bệnh khó ngủ, hoảng loạn, lo âu, hồi hộp...
Liệu trình điều trị: Tùy theo cơ địa của từng bệnh nhân, thời gian điều trị khỏi bệnh tối thiểu từ 20 - 30 ngày điều trị.
4.2 Sử dụng liệu pháp châm cứu trị bệnh mất ngủ
Châm cứu là việc sử dụng các kim nhỏ châm vào các huyệt đạo của cơ thể. Theo Y học cổ truyền, châm cứu dựa trên nguyên tắc khí và lực. Khí chảy qua các kinh mạch trong cơ thể được gọi là huyệt đạo. Khó ngủ là do khí huyết không thông, gây bế tắc trong các kinh mạch. Vì vậy châm cứu có tác dụng làm thông các kinh mạch, giúp cho khí huyết lưu thông được dễ dàng giúp trị triệt để bệnh mất ngủ.
Ngoài ra châm cứu còn có tác dụng tư bổ 3 tạng Can, Tỳ, Thận giúp cho:
+ Tạng Can tàng đủ huyết về đêm.
+ Tạng Tỳ nhiếp được huyết, làm huyết chảy trong lòng mạch 1 cách điều hòa, làm khí huyết giao hòa.
+ Tạng Thận được nuôi dưỡng khỏe mạnh sinh ra được tủy, giúp chủ được âm làm dương khí không thượng xung.
Thời gian điều trị: Khoảng 2 đến 3 liệu trình, mỗi liệu trình kéo dài 10 ngày, sau mỗi liệu trình bệnh nhân nghỉ 3 đến 4 ngày để cơ thể tự phục hồi và không làm tổn thương phần da và cơ bên ngoài cơ thể.
Các bạn có nhu cầu điều trị bệnh mất ngủ xin liên hệ. 0909855640 - Chuyên gia Nguyễn Lâm

Phương Pháp Giảm Mỡ Bụng Đơn Giản

http://www.benhvienthongminh.com

Bạn đang muốn tìm cho mình một cách giảm mỡ bụnghttp://www.benhvienthongminh.com nhanh chóng để lấy lại cho mình sự tự tin trước ánh mắt của mọi người. Vậy thì bạn hãy chọn cho mình phương pháp giảm mỡ bụng đơn giản và hiệu quả mà chúng tôi chia sẻ cho các bạn dưới đây, chắc chắn bạn sẽ nhanh chóng có được một vóc dáng hoàn hảo nhất. Các bạn hãy cùng tìm hiểu nhất.

 Phương Pháp Giảm Mỡ Bụng Đơn Giản
Ăn nhiều rau xanh
Ăn nhiều rau xanh là một trong những cách giảm mỡ bụng hữu hiệu nhất mà bạn nên thực hiện. Trong rau  xanh có rất nhiều chất xơ, vitamin và các khoáng chất dinh dưỡng, khi ăn vào sẽ giúp cơ thể điều tiết các chất dinh dưỡng, làm tăng quá trình trao đổi chất, ngăn chặn sự tích tụ mỡ thừa, cho bạn một vùng bụng phẳng lì.
Massage, bấm huyệt
Đây không những là một bí quyết làm đẹp của chị em mà còn là một phương pháp giảm cân  được nhiều người lựa chọn vì nó mang lại cảm giác thoải mái, thưu giãn. Phương pháp bấm huyệt có thể làm tiêu đi mỡ thừa trong cơ thể.
Ngoài ra, phương pháp massage, bấm huyệt còn thông qua sơ kinh thông lạc, vận tỳ hoá thấp, hoạt huyết hoá ứ, lợi khí tiêu trệ từ đó điều tiết công năng của tạng phủ. Vậy nên bạn muốn giảm cân một cách an toàn và hiệu quả thì hãy chọn cho mình cách giảm cân này nhé.
Ăn bưởi mỗi ngày
Bưởi là một loại quả chứa nhiều nước và rất nhiều các khoáng chất dinh dưỡng cho cơ thể. Vậy nên nó chính là cách để bạn giảm mỡ bụng nhanh chóng.
Bạn chỉ cần ăn nửa quá bưởi trước mỗi bữa ăn hayh những hki bạn cảm thấy đói, như thế sẽ giúp cho bạn có cảm giác no lâu, giảm cơn thèm ăn một cách hiệu quả, giúp bạn giảm mỡ bụng một cách nhanh chóng.
Châm cứu
Nếu bạn muốn tìm cho mình một cách giảm mỡ bụng hiệu quả và an toàn thì châm cứu chính là lựa chọn hay nhất cho bạn. Châm cứu sẽ giúp các huyệt đạo được lưu thông, giúp cơ thể điều tiết một cách dễ dàng, ngăn chặn sự tích tụ mỡ thừa một cách hiệu quả. Với các này thì bạn nên kế hợp với một thực đơn giảm cân lành mạnh thì hiệu quả mang lại mới đạt mức tối đa.
Phương pháp mới nhất:
Sử dụng thực phẩm chức năng được bào chế từ đông y, là loại thực phẩm cung cấp vitamin và khoáng chất giúp cơ thể bổ sung đầy đủ chất bổ dưỡng mà không có sản phẩm nào có, sản phẩm đó chỉ có tại benhvienthongminh.com. Với sản phẩm tuyệt vời này của hơn 90 nhà khoa học nghiên cứu, được tổ chức y tế thế giới ( WHO) chấp thuận cho sử dụng cho toàn dân trên thế giới, sản phẩm duy nhất về giảm cân lọt vào tóp 20 sản phẩm được yêu thích nhất do hiệp hội người tiêu dùng bình chọn. Một viên sản phẩm chứa từ 5-7 kg thảo dược chưa chiết xuất, rất tốt cho cơ thể. Khi cơ thể béo phì do chế độ ăn uống không phù hợp và tích lũy mỡ thừa gây dư cân, sản phẩm giúp đào thải mỡ thừa và làm cân bằng chế độ dinh dưỡng. Với phương pháp giảm cân của sản phẩm này bạn an tâm cho sức khỏe của mình khi ăn kiêng mà không sợ thiếu chất gây suy nhược cơ thể. Khi cơ thể được cung cấp các dưỡng chất đầy đủ và một vài thảo dược đào thải mỡ thừa khi đó cơ thể bạn sẽ đẹp gọn gàng và sức khỏe tăng lên. Cơ thể đầy đủ dinh dưỡng sẽ không khích thích thèm ăn nên bạn không lo lắng giảm ăn mà bị đau bao tử do nhịn ăn. Để có sản phẩm tùy thuộc vào sức khỏe và cơ địa mỗi người bạn vui lòng liên hệ: 0909855640 - 0993493599 Chuyên gia Mr Nguyễn 
Trên đây là phương pháp giảm mỡ bụng đơn giản giúp cho bạn nhanh chóng có được một vóc dáng hoàn hảo nhất. Ngoài ra bạn có thể tìm hiểu thêm các cách làm đẹp vóc dáng khác tại http://www.benhvienthongminh.com. Chúc các bạn giảm béo thành công!

Bệnh sơ cứng bì(da)-vẩy nến

Bệnh xơ cứng bì, tên gọi đầy đủ trong y học là bệnh xơ cứng bì hệ thống tiến triển, là một bệnh tự miễn không rõ căn nguyên, đặc trưng bởi tình trạng dầy và cứng da do sự tích luỹ các chất tạo keo, liên quan đến nhiều cơ quan trong cơ thể bao gồm ống tiêu hoá, tim, phổi, thận và mạch máu.
   1. Nguyên nhân gây bệnh
Mặc dù các nhà khoa học chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh của xơ cứng bì nhưng có thể khẳng định rằng đây không phải là một bệnh lây nhiễm hoặc di truyền từ bố mẹ sang con cái. Người ta nghi ngờ rằng bệnh xơ cứng bì gây ra do sự phối hợp của nhiều yếu tố:
- Hoạt tính bất thường của hệ miễn dịch: trong xơ cứng bì, hệ miễn dịch kích thích các tế bào xơ non sản xuất ra quá nhiều chất tạo keo, các chất này lắng đọng xung quanh các tế bào, mạch máu, nội tạng và gây tổn thương xơ hoá tại nơi lắng đọng.
- Cấu trúc gen: một số gen có vai trò quan trọng trong sự phát sinh và tiến triển của bệnh xơ cứng bì.
- Các kích thích trong môi trường: việc tiếp xúc với một số yếu tố trong môi trường như các loại siêu vi trùng, các chất keo hoá học và một số loại dung môi hữu cơ trong một thời gian kéo dài có thể gây ra xơ cứng bì.
- Yếu tố nội tiết: trong nhóm tuổi từ 30-55, tỷ lệ xơ cứng bì ở nữ giới cao hơn ở nam giới 7-12 lần, do đó người ta nói đến vai trò của các hormon sinh dục nữ, đặc biệt là estrogen, trong sự phát sinh của bệnh xơ cứng bì.
Dựa vào mức độ của tổn thương da, xơ cứng bì được chia làm 2 thể là xơ cứng bì khu trú và xơ cứng bì lan toả. Trong thể thứ nhất, tổn thương da khu trú ở mặt và ngọn chi, tiến triển chậm và ít có tổn thương nội tạng nặng, biến chứng nguy hiểm nhất là tăng áp động mạch phổi và xơ đường mật. Thể thứ 2 thường có tổn thương da trên diện rộng ở mặt, gốc chi và thân mình, kèm theo có tổn thương ở đường tiêu hoá, tim, thận và phổi. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi giới và chủng tộc, nhưng hay gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi từ 30-50, bệnh cũng thường xảy ra hơn ở người châu Á và Mỹ – Phi so với người châu Âu.

   2. Biểu hiện của bệnh xơ cứng bì.
   Xơ cứng bì (hay còn gọi là bệnh Collagen) là bệnh rối loạn chất tạo keo, rối loạn sản xuất protein trong cơ thể. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, đa số đều được phát hiện muộn, với những biến chứng nặng như: mũi và miệng nhỏ lại, nuốt nghẹn, khó thở, suy tim, không nói được... Y học chưa tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh

   Đối với xơ cứng bì khu trú hay xơ cứng bì dãi thì bệnh nhân vẫn có thể sinh hoạt bình thường nhưng khi đã mắc bệnh xơ cứng bì hệ thống thì chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nhiều, bệnh nhân mất khả năng lao động và không sinh hoạt bình thường được.
Bệnh tưởng như chỉ thoáng qua, nhưng...Bác sĩ Trần Ngọc Ánh, giảng viên Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế TPHCM, cho biết hội chứng này còn gặp trong những bệnh tắc mạch nên có khi bị chẩn đoán lầm sang những bệnh khác như bệnh thiếu máu đầu chi bởi đầu tiên bệnh xuất hiện ở đầu chi nhưng sau đó lan dần đến mặt và thân mình.
   Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng ở trẻ em thì ít hơn, nguy cơ xảy ra ở nữ cao gấp 3 lần nam. Đa số những bệnh nhân bị xơ cứng bì đều được phát hiện bệnh và điều trị ở giai đoạn muộn. Lúc này bệnh nhân đã có những biến chứng nặng gây tổn thương đến hệ thống tiêu hóa như miệng cứng nên ăn và nói không được. Tất cả những hoạt động đều phải nhờ đến người khác. Bác sĩ Trần Thị Thanh Thủy, Phó Khoa Lâm sàng 1 Bệnh viện Da liễu TPHCM cho rằng về lâu dài bệnh sẽ gây xơ cứng cả cơ hô hấp và thực quản làm bệnh nhân nuốt nghẹn, khó thở, suy tim (do cơ tim bị xơ), phổi bị xơ hóa. Đại đa số những bệnh nhân mắc bệnh xơ cứng bì tử vong do suy kiệt vì nuốt nghẹn, ăn không được. Lúc đầu nghẹn với thức ăn đặc nhưng sau đó nghẹn cả thức ăn lỏng. Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân thường bị tiêu chảy do các cơ ở ruột non và ruột già đã bị giãn.
Dấu hiệu thường gặp
Những triệu chứng đầu tiên của bệnh là xuất hiện hội chứng Raynaud như cảm giác lạnh, tím trắng ở đầu chi. Khi bệnh lan đến mặt thì da mặt bắt đầu cứng, mất nếp nhăn, mũi và miệng nhỏ lại, việc ăn uống bắt đầu khó khăn. Bệnh di chuyển xuống thân mình làm da trở nên cứng, phẳng, người bó lại như mặc một áo giáp bằng da, bụng cũng phẳng. Màu da có chỗ đậm, chỗ nhạt, không có lông, cơ thể không đổ mồ hôi, không véo da được. Cho đến lúc này, bệnh nhân mới nhận ra mình mắc bệnh xơ cứng bì và tìm đến bác sĩ chuyên khoa da liễu. Do da cứng làm cho tay chân không gập lại được nên đi lại rất khó khăn. Nếu nói một cách hình ảnh thì những bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống có dáng đi như rô bốt. Cũng chính vì vậy mà trong thời gian đầu của bệnh, nhiều người cứ nghĩ mình mắc bệnh khớp và chỉ đi điều trị ở bác sĩ chuyên khoa khớp. Vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết thay đổi, bệnh nhân luôn cảm thấy đau khớp và đau ở những đầu ngón tay.   Xơ cứng bì là bệnh có tổn thương toàn bộ tổ chức liên kết, với tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau đặc trưng bằng các tổn thương ở động mạch, mao mạch nhỏ gây xơ cứng và làm tắc nghẽn các mạch máu ở da, ống tiêu hoá, tim, phổi, thận và các cơ quan khác nhau.
Tổn thương da thường khu trú, tại đó xuất hiện sự tăng sinh nhiều chất tạo keo ở tổ chức liên kết dưới da. Tổn thương nội tạng là điều kiện tiên lượng.
Phân loại
Thể tổn thương da lan toả
Hội chứng Raynaud ít nhất có 1 năm trước khi có tổn thương da.
Tổn thương da ở gốc chi và thân mình.
Hay gặp và có khi có rất sớm các dấu hiệu sau:
Tổn thương tổ chức kẽ của phổi.
Suy thận.
Tổn thương dạ dày - ruột một cách lan tỏa.
Tổn thương cơ tim.
Giãn và phá huỷ các mao mạch.
Thể tổn thương khu trú
Có hội chứng Raynaud từ nhiều năm trước.
Tổn thương da khu trú ở đầu ngón (từ ngón tay lên đến cổ tay hoặc từ ngón chân đến đầu gối), đôi khi cứng da khu trú ở vùng dưới xương đòn).
Có nguy cơ tăng áp lực động mạch phổi muộn.
Có hoặc không có các biểu hiện sau:
Tổn thương tổ chức kẽ của phổi.
Đau dây thần kinh tam thoa.
Xơ hoá và dãn các mao mạch ở tổ chức dưới da.
Hội chứng CREST: bao gồm 4 dấu hiệu là:
Hội chứng Raynaud.
Vôi hoá.
Xơ cứng ngón chi.
Giãn mạch và xơ cứng thực quản.
Dịch tễ học
Là bệnh hiếm gặp, tần suất gặp thay đổi giữa các nghiên cứu. Nhưng người ta nhận thấy rằng tại Mỹ có từ 2,3 đến 16 trường hợp phát hiện mới trong 1 triệu dân mỗi năm.
Bệnh bắt đầu thường từ 40 - 50 tuổi, ở nữ xuất hiện sớm hơn khoảng 30-39 tuổi. Trước tuổi 20, người ta gặp với tỷ lệ 10% các trường hợp nghiên cứu. Tỷ lệ tử vong hàng năm trung bình ở Mỹ khoảng 2,1 đến 2,8 trường hợp trên 1 triệu dân. Tỷ lệ này thay đổi tuỳ theo tuổi.
Phần lớn bệnh nhân tử vong có thời gian tiến triển trung bình 5 năm.
Đây là thời gian cho một quá trình tổn thương nội tạng tiến triển.
Cơ chế bệnh sinh học:
Xơ cứng bì là bệnh có cơ chế phức tạp. Tuy nhiên từ nhiều cơ chế đã biết qua nghiên cứu về sự tham gia của nhiều loại tế bào, về nhiều phân tử (kháng thể, hoạt chất trung gian)…Người ta đã mô hình hoá cơ chế bệnh sinh của xơ cứng bì.
Bệnh lý về chất tạo keo
Tăng lượng chất tạo keo ngoài tế bào như proteoglycan, fibronectin, laminin…tạo nên các tổn thương về giải phẫu bệnh học cơ bản của xơ cứng bì, đó là xơ cứng da và dầy da.
Nghiên cứu qua kính hiển vi điện tử người ta nhận thấy xuất hiện sự tích tụ của các sợi fibrin xen với các sợi tạo keo. Điều này làm biến đổi cấu trúc của da do tăng lắng đọng và bám dính.

Bệnh lý tổn thương mạch máu
Trong xơ cứng bì, tổn thương các mạch máu có kích cỡ nhỏ (50 - 500 micron). Hội chứng Raynaud rất hay gặp (90 - 95% số bệnh nhân), đây được coi là sự tổn thương vi mạch chủ yếu trong xơ cứng bì.
Có sự tăng sinh các tế bào nội mô, làm dày tổ chức trung mô, xơ hoá thứ phát và lắng đọng chất tạo keo gây ra tắc vi mạch do hẹp lòng mạch nhỏ.
Thoái hoá nhân và hoại tử nhân các tế bào nội mạch. Mất đi tình trạng liên kết chặt chẽ của thành mạch. Tăng quá trình thẩm thấu thành mạch gây ra phù, thâm nhiễm tế bào viêm.
Bệnh lý hệ miễn dịch
Các tế bào của hệ miễn dịch như lympho, đại thực bào và các cytokin khác nhau đều tham gia trong cơ chế tổn thương của mạch máu và tổ chức liên kết.
Phối hợp với các tổn thương về gen riêng biệt tác động một cách gián tiếp bằng cách kích thích các nguyên bào sợi và các tế bào nội mô.
Trung tâm tổn thương da là sự thâm nhiễm các tế gào T- CD4 và T - CD8, nhiều nhất ở vùng xung quanh mạch máu và thần kinh.
Kích thích các tế bào lympho B sản xuất một lượng lớn kháng thể, chủ yếu là các tự kháng thể.
Chẩn đoán xơ cứng bì lan toả
Tổn thương hệ tiêu hoá
Bảng. Bệnh lý hệ tiêu hóa trong xơ cứng bì.
Miệng
Thực quản
Dạ dày
Ruột
Loét miệng
Trào ngược thực quản
Giảm nhu động
Nhiễm khuẩn
Viêm gai lưỡi
Giảm nhu động
Giãn dạ dày
Loét hành tá tràng
Giãn mao mạch
Hẹp thực quản
Ứ thức ăn
Giảm nhu động
Rối loạn về nuốt
Loét thực quản
Loét dạ dày
Loét ruột non
Teo gai lưỡi
 Chảy máu dạ dày
Thủng ruột
Áp xe răng
 Hoại tử ruột
Tổn thương thận
Là nguyên nhân tử vong của XCB . Các tổn thương thường là:
Suy thận cấp (gặp với tần suất từ 15 - 20%).
Protein niệu đơn thuần kèm tăng HA, thiếu máu.
Tổ chức học của thận tổn thương có các biểu hiện sau:
Quá sản lớp nội mạch các động mạch liên thuỳ.
Hoại tử dạng fibrin tại các tiểu động mạch.
Tăng sinh các tế bào màng đáy cầu thận.
Có thể phát hiện sự lắng đọng của C3a và IgM bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang trên thành mạch máu tổn thương gây ra thiếu máu cục bộ tại các vùng vỏ thận, gây xơ hoá đơn vị cầu thận. Tổn thương thường lặng lẽ, âm thầm, nhưng tiên lượng rất nặng. Suy thận là nguyên nhân chính gây tử vong.
Nguyên nhân của tổn thương thận chủ yếu là do giảm thể tích máu đến thận, một mặt do xơ cứng động mạch thận đặc biệt các mạch máu nhỏ, mặt khác có sự bài tiết renin tại tổ chức cận cầu thận gây co mạch và giảm lưu lượng tại thận.

Tổn thương phổi
Xơ phổi do xơ hoá tổ chức kẽ là biến chứng hàng đầu trong xơ cứng bì. Biểu hiện khó thở khi gắng sức, ho khan không khạc đờm, giảm rì rào phế nang ở đáy phổi.
X quang phổi cho thấy hình ảnh “lưới” ở giai đoạn đầu, sau đó xuất hiện các nốt mờ xen lẫn, tập trung ở vùng rốn phổi trải dài xuống đáy phổi. Đôi khi xuất hiện hình ảnh bọng khí do dãn phế nang.
Chụp cắt lớp phổi cho thấy rõ tổn thương ở giai đoạn sớm khi hình ảnh X quang còn trong giới hạn bình thường.
Thăm dò quá trình thông khí phổi cho phép phát hiện sớm dấu hiệu xơ tổ chức kẽ của phổi, trước khi có dấu hiệu trên X quang phổi, quá trình xơ phổi sẽ gây ra thông khí hạn chế (giảm các thể tích khí của phổi).
Tăng áp lực động mạch phổi: đo áp lực động mạch phổi là cần thiết trong các trường hợp xơ cứng bì. Đây là biến chứng muộn và là nguyên nhân tử vong.
Tổn thương tim
Dấu hiệu lâm sàng không đặc hiệu cho riêng xơ cứng bì đó là khó thở gắng sức, hồi hộp, tức ngực, tím môi và đầu chi.
Tổn thuơng tim hay gặp gồm:
Viêm màng ngoài tim có thể cấp hoặc tiến triển mạn tính. Đối với thể mạn tính thường không có triệu chứng, chỉ phát hiện trên siêu âm tim…Có thể kèm theo tràn dịch màng ngoài tim với số lượng vừa hoặc nhiều.
Bệnh cơ tim trong xơ cứng bì rất hay gặp do rối loạn tuần hoàn vi mạch của động mạch vành nuôi dưỡng cơ tim. Do quá trình xơ cứng mao mạch, co thắt, hẹp mao mạch gây giảm quá trình tưới máu của cơ tim. Tình trạng này được cải thiện khi điều trị bằng các thuốc chẹn calci như nifedipin.
Rối loạn dẫn truyền tự động gây ra các rối loạn về nhịp, bloc nhánh, bloc nhĩ thất.
Tổn thương xương và khớp
Gặp từ 45% - 90% các bệnh nhân bị xơ cứng bì hệ thống tiến triển. Các biểu hiện ở xương khớp đôi khi là dấu hiệu đầu tiên của bệnh:
Đau, viêm nhiều khớp đối xứng, cứng khớp vào buổi sáng làm người ta thường nghĩ đến viêm khớp dạng thấp.
Thường đau, viêm ở các khớp đốt, bàn ngón, cổ tay, khớp gối, có thể kèm theo sưng, nóng, đỏ.
Viêm bao hoạt dịch tại khớp đau, tràn dịch khớp, thâm nhiễm nhiều tế bào đơn nhân và lympho.
Hạn chế vận động, có cảm giác co cứng khi vận động. Điều này đôi khi còn do cứng da làm nặng thêm.
Trên phim X quang khớp người ta có thể quan sát thấy dày lên của phần mềm quanh khớp, hẹp khớp, loãng xương, huỷ đầu xương trong khớp.
Tổn thương cơ
Bắt đầu bằng đau cơ tăng dần lên.
Tăng vừa phải các men cơ trong huyết thanh, đây là dấu hiệu rất có ý nghĩa.
Sinh thiết cơ tìm thấy xơ hoá tổ chức kẽ, giảm đường kính các sợi cơ, giảm số lượng mao mạch trong tổ chức cơ. Tuy nhiên sinh thiết cơ không phải là thủ thuật được khuyên dùng vì sau sinh thiết có hiện tượng chậm quá trình lên sẹo ở bệnh nhân xơ cứng bì.
Tổn thương hệ nội tiết
Có thể gặp suy tuyến giáp hoặc cường giáp.
Tìm thấy kháng thể kháng giáp ở những bệnh nhân suy giáp.
Suy tuyến cận giáp do xơ hoá tuyến gây ra.
Teo tuyến thượng thận được mô tả trong xơ cứng bì có thể do quá trình điều trị bằng corticoid kéo dài hoặc do chính xơ cứng bì gây ra.

Tổn thương thần kinh
Có thể gây tổn thương dây tam thoa với các triệu chứng: dị cảm, đau đối xứng do tổn thương hai nhánh dưới của dây thần kinh này. Thường không có rối loạn vận động.
Có thể có tổn thương hệ thần kinh trung ương, rối loạn tâm thần kèm theo. Người ta cũng mô tả đến các dấu hiệu tổn thương thần kinh ngoại biên. Các tổn thương thần kinh càng nặng lên khi có sự giảm vitamin B12 do quá trình kém hấp thu, calci hoá trong tuỷ hoặc chèn ép tuỷ.
Tổn thương hệ thần kinh tự động rất hay gặp trong các tổn thương ở dạ dày và ruột gây ra rối loạn về nhu động của dạ dày và ruột.

Tiêu chuẩn chẩn đoán
Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng của Hội Khớp Hoa Kỳ (ARA) đối với xơ cứng bì hệ thống.
Tiêu chuẩn chính:
Xơ cứng da vùng chi: da căng cứng, dày, ấn không lõm.
Tiêu chuẩn phụ:
Cứng ngón chi: cứng các ngón tay hoặc chân, hạn chế gấp, duỗi các ngón tay.
Chậm lên sẹo vùng da ngón chi.
Xơ phổi vùng đáy.
(Lưu ý: Để chẩn đoán bệnh xơ cứng bì cần có 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ).
Triệu chứng lâm sàng thường gặp
Hiện tượng Raynaud
Gặp ở 95% các trường hợp bệnh nhân XCB và 4% đến 5% trong dân cư.
Là dấu hiệu có trước từ vài tháng hoặc vài năm trước khi có xơ cứng bì. Tiến triển một cách âm thầm.
Đây là rối loạn quá trình vận mạch ở đầu chi do tác động của lạnh và tiến triển trong 3 giai đoạn.
Giai đoạn đầu trong vài phút, xảy ra nhanh ở một hoặc nhiều ngón của hai bàn tay làm đầu ngón trắng, lạnh và giảm cảm giác. Đây là giai đoạn cần cho chẩn đoán.
Giai đoạn 2: Vùng chi tím lại và đau do ứ trệ máu ở hệ tiểu tĩnh mạch.
Giai đoạn 3: Bàn tay trở lại hồng do giãn nở các mao quản. Bàn tay trở nên nóng hơn.
Hiện tượng Raynaud ngày càng xuất hiện nhiều, mau hơn và rõ nét hơn cùng với quá trình tiến triển của bệnh. Giai đoạn nặng bàn tay luôn lạnh, tím và giảm cảm giác.
Tổn thương da và niêm mạc (da, niêm mạc, móng) trải qua 3 giai đoạn: phù, cứng , teo da, mất các nếp trên da.
Da vùng trán, quanh mắt phẳng, mất nếp nhăn, môi mỏng căng, khuôn mặt vô cảm.
Da cứng ở vùng ngón, dày lên tạo thành mảng da khô, dính sát vào lớp sâu làm hạn chế gấp duỗi, giảm tiết mồ hôi, rụng lông, móng khô cứng, gẫy và có khía. Nhiều khi có teo da rõ ở ngón.
Loét và hoại tử đầu ngón do loạn dưỡng và tắc mạch, đôi khi phải tháo đốt ngón đối với trường hợp nặng và đau. Loét có thể gặp ở các vùng da khác do loạn dưỡng.
Loét miệng, áp xe răng lợi cũng là dấu hiệu hay gặp. Hạn chế mở miệng do cứng, có hình khía da quanh miệng.
Xuất hiện vùng mất sắc tố trên da (30%), đôi khi xuất hiện vùng calci hoá dưới da ở đầu ngón hoặc vùng da cẳng tay, cổ, đầu gối. Sự lắng đọng calci này không làm thay đổi màu da, tuy nhiên có mật độ chắc, không đều và có thể có loét.
Xét nghiệm
Các kháng thể kháng nhân trong xơ cứng bì
Người ta phát hiện được một số kháng thể kháng nhân như: Anti - Histone trong xơ cứng bì, tuy nhiên việc xác định hiệu giá trong chẩn đoán bệnh còn cần được nghiên cứu nhiều.
Các xét nghiệm khác
Hội chứng viêm trên xét nghiệm: tăng tốc độ máu lắng, tăng gamma globulin, tăng ferritin, tăng CRP.
Thiếu máu, thông thường là thiếu máu hồng cầu nhỏ, nhược sắc, đôi khi có thiếu máu tan máu tự miễn.
Sinh thiết da cho thấy hình ảnh tăng sinh các nguyên bào sợi, chất tạo keo, dầy thành mao mạch dưới da, tổn thương lớp tế bào nội mô, hình ảnh tắc vi mạch, thâm nhiễm các tế bào viêm xung quanh mạch máu.
Tiến triển và tiên lượng
Tiến triển của xơ cứng bì hệ thống rất khác nhau và khó nhìn thấy trước được. Tiên lượng chung phụ thuộc vào mức độ tổn thương nội tạng. Yếu tố tiêu lượng xấu là mức độ tổn thương thận và tim, nó còn phụ thuộc vào sự lan toả nhanh chóng của tổn thương da.
Yếu tố tiêu lượng bệnh được đề cập nhiều đó là tổn thương phổi với FEV1 < 70% so với giá trị lý thuyết và các dấu hiệu xuất hiện sớm của viêm màng ngoài tim hoặc rối loạn sắc tố da ngay ở lần đầu khám bệnh.
Chẩn đoán phân biệt
Có nhiều tổn thương cứng da rất gần với tổn thương da trong xơ cứng bì.
Cứng da phù niêm
Bệnh hiếm gặp, với một số đặc điểm sau:
Lắng đọng nhiều các phân tử mucopolysacarid ở lớp thượng bì, trung bì.
Gia tăng nhiều nguyên bào sợi tại tổ chức dưới da.
Có nhiều sẩn có đường kính 2 - 3mm ở da cổ tay, mặt mu tay, cánh tay và mặt. Thường phối hợp với cứng da toàn thể.
Chẩn đoán dựa vào sinh thiết da.
Teo cứng da bẩm sinh
Hội chứng Werner: bệnh có tính gia đình. Xuất hiện teo da thể giống xơ cứng bì, teo cơ, đục thuỷ tinh thể hai bên, phối hợp các bệnh lý về động mạch. Trên da có nhiều vết loét, loạn dưỡng ở chân hay phối hợp với loãng xương và đái tháo đường.
Các bệnh phối hợp
Hội chứng Gougerot - Sjửgren: thường gặp với tỷ lệ thấp 1,4 - 7,8%, người bệnh thường có phì đại tuyến mang tai, giảm tiết dịch nước bọt. Tại tuyến có thâm nhiễm các tế bào lympho.
Viêm da cơ: Tổn thương cơ kèm với xơ cứng bì là rất hay gặp. Thông thường có tăng men cơ (CK, CKMP, GOT, GPT…). Trên lâm sàng có hiện tượng yếu cơ, rối loạn điện cơ, có biểu hiện viêm cơ khi sinh thiết cơ. Đôi khi còn có biểu hiện lâm sàng của viêm da cơ.
Lupus ban đỏ: Trong bệnh lý này cũng hay gặp các triệu chứng chung của xơ cứng bì như đau cơ đau khớp. Tuy nhiên kháng thể kháng ADN gặp trong lupus ban đỏ hệ thống với tần suất cao hơn.

Hội chứng Shapr: là hội chứng bao gồm các dấu hiệu của hội chứng Raynaud, ngón tay cứng, đau khớp không biến dạng và viêm cơ, trong huyết thanh xuất hiện kháng thể kháng nhân hoà tan typ anti - RNP với hiệu giá cao, kháng thể này ít có trong xơ cứng bì.
Điều trị xơ cứng bì toàn thể
Điều trị toàn thân
Không dùng thuốc
Cai thuốc lá nhằm chặn quá trình tác động đến phổi và mạch máu.
Tập luyện thể lực hàng ngày, đặc biệt tập thở thường xuyên nhằm cải thiện thông khí của phổi.
Xoa bóp, phục hồi chức năng bằng các phương pháp tắm nóng, bọc paraffin nhằm phục hồi vận động, tránh co cứng cơ, chống teo cơ, tăng cường tuần hoàn mao mạch nơi tổn thương.
Corticoid theo đường toàn thân
Làm thay đổi cấu trúc sợi tạo keo.
Giảm phản ứng viêm tại da, khớp, cơ và phổi.
Điều trị trong những thể xơ cứng bì có kèm viêm đa cơ, viêm da cơ, lupus ban
đỏ và trong những thể nặng của xơ cứng bì khu trú.
Corticoid không phải là phương tiện chủ yếu nhằm điều trị các tổn thương nội tạng nặng và góp vào việc quyết định tiên lượng của xơ cứng bì.
Liều dùng hàng ngày 0,5 - 1mg/kg/24, giảm liều sau đó.
Corticoid tại chỗ
Mỡ Dermovat hoặc Betamethason bôi trên da 1 lần/24h trong thể tổn thuơng da không nặng và không quá sâu.
D - penicillamin
Là thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp, cũng có thể sử dụng điều trị xơ cứng bì. Nó ức chế quá trình tổng hợp chất tạo keo của tổ chức liên kết. Liều dùng hàng ngày từ 300-600mg. Thời gian có thể đến 6 tháng. Người ta có thể phối hợp với corticoid trong điều trị xơ cứng bì. Tác dụng không mong muốn hay gặp khi dùng D- penicillamin là rối loạn tiêu hoá, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, loạn sản tuỷ, suy thận, nhược cơ và dị ứng với các thành phần của thuốc.
Methotrexat
Được sử dụng với mục đích ức chế sản xuất các chất tạo keo từ các nguyên bào sợi. Người ta nhận thấy sự cải thiện có ý nghĩa về mức độ tổn thương da, diện tích tổn thương da, sự cải thiện nhu động của thực quản và hội chứng Raynaud. Ngoài ra thay huyết tương phối hợp với cyclophosphamid cũng được đề cập đến trong điều trị xơ cứng bì toàn thể.
Điều trị tuỳ theo một số tổn thương
Điều trị hội chứng Raynaud
Chủ yếu là điều trị tổn thương mạch máu ngoại vi, ngăn chặn quá trình sản xuất quá nhiều tổ chức sợi và chất tạo keo.

   Đối với thể nhẹ:
Nên tránh tiếp xúc lạnh, tránh chấn thương dễ gây loét.
Tránh dùng các thuốc dễ gây hội chứng Raynaud hoặc làm cho nó nặng lên: Thuốc chẹn beta, casein, nicotin, cocain và các thuốc co mạch khác.
Vệ sinh da tránh loét, tránh bội nhiễm. Đối với các thể loét nặng có thể dùng mỡ kháng sinh tại chỗ. Khi tay bị ẩm cần được làm khô.
Dùng mỡ nitroglycerin (Lenitral) trên vùng da ở ngón tại vị trí hai cạnh bên của ngón nơi có động mạch nhỏ đi qua nhằm làm giãn mao mạch, cải thiện sự tưới máu đến ngón chi.
   Đối với thể nặng:
Ức chế kênh calci được dùng phổ biến và có hiệu quả: Nifedipin từ 20mg đến 80mg/ngày trong thời gian dài. Biến chứng hay gặp là giảm trương lực cơ tâm vị nên gây trào ngược thực quản, dạ dày vì vậy cần phối hợp thêm thuốc anti - H2.
Aspirin được dùng nhằm chống ngưng tập tiểu cầu.
   Điều trị khớp
Giảm đau, chống viêm không steroid hoặc liều thấp của corticoid (≤ 5-10mg/ngày).
Vận động liệu pháp, vật lý trị liệu, chỉnh hình thay thế nếu biến dạng nặng và hạn chế vận động.
   Tổn thương tim
Các thuốc chẹn kênh calci làm cải thiện rõ nét sự tưới máu cho cơ tim do giảm co thắt mạch máu nhỏ.
Cortiroid được dùng trong tràn dịch hoặc niêm màng ngoài tim phối hợp.
Điều trị ở bộ máy tiêu hoá
Điều trị tổn thương thực quản là chủ yếu:
Dùng thuốc kháng acid rất có hiệu quả trong tổn thương niêm mạc thực quản.
Ăn bữa nhỏ, nhiều bữa.
Primperan được dùng trong việc cải thiện vận động thực quản.
Điều trị cơn co mạch thận
Đây là tổn thuơng cấp tính dễ gây tử vong. Có thể điều trị bằng propranolon kèm thêm các thuốc chống đông máu. Giảm huyết áp bằng thuốc ức chế men chuyển.
Nhóm thuốc captopril (Lopril) có hiệu quả trong điều trị co mạch thận và tăng áp động mạch phổi trong xơ cứng bì.

   Điều trị các biểu hiện ở phổi
Không có điều trị thật hiệu quả cho xơ phổi. Tổn thương thường nặng dần và khó hồi phục, trong thể nhẹ có thể dùng D - pénicillamin, với thể nặng dùng methotrexat.
Với các thuốc corticoid, D - penicillamin và các thuốc ức chế miễn dịch cải thiện được dung tích sống trên thăm dò chức năng hô hấp.
Trong trường hợp xơ phổi có thể dùng corticoid 20mg/24h sau đó giảm liều và 125mg methotrexat trong 3 tháng.

- Với nhiều phương pháp kết hợp và tùy vào cơ địa của mỗi bệnh nhân. Trước khi điều trị cần khảo sát tình hình bệnh thực tế, trong quá trình điều trị cần theo dõi diễn biến của bệnh và phương pháp kết hợp điều trị cũng khác nhau, phù hợp và đúng chuyên gia về bệnh này thì mới mau khỏi và có kết quả tốt cho bệnh nhân. Với đội ngũ chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm về lĩnh vực chữa bệnh này chúng tôi tự tin cam kết hoàn tiền 100% nếu không có kết quả sau một liệu trình chữa bệnh. Liên hệ ngay với chuyên gia Công Ty TNHH Sức Khỏe Tuyệt Hảo: 0935141438- Anh Lâm



Nguồn: Khoahocdoisong.org